Những điểm mới của Bộ luật Lao động sửa đổi

Với 90,06% đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Lao động sửa đổi. Bộ luật sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2021. Sau đây là một số điểm mới đáng lưu ý ở Bộ luật Lao động sửa đổi:

Tiệm cận tới các tiêu chuẩn quốc tế

Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) nhận định, việc Việt Nam vừa thông qua Bộ luật Lao động sửa đổi đã tiệm cận hơn các tiêu chuẩn lao động quốc tế.

“Đây là một tiến bộ quan trọng do những sửa đổi trong Bộ Luật Lao động sẽ cải thiện đáng kể vấn đề việc làm và quan hệ lao động của Việt Nam, tạo nền tảng vững chắc cho hội nhập quốc tế và thương mại công bằng”,  theo TS. Chang-Hee Lee, Giám đốc ILO Việt Nam.

Theo đó, Bộ luật Lao động sửa đổi lần này đã chú trọng hơn tới việc thực hiện thương lượng tập thể tự nguyện, một công cụ cần thiết đối với một nền kinh tế thị trường hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong tiến trình hội nhập toàn cầu sâu rộng.

Nội dung thay đổi quan trọng nhất trong Bộ luật Lao động sửa đổi lần này là người lao động tại doanh nghiệp được quyền thành lập hay tham gia một tổ chức đại diện do họ lựa chọn, không nhất thiết phải là thành viên của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

Giải thích rõ hơn cho nhận định này, Giám đốc ILO Việt Nam phân tích, tự do hiệp hội là một quyền cơ bản được nêu trong Tuyên bố về các Nguyên tắc và Quyền Cơ bản trong Lao động năm 1998 của ILO. Tự do hiệp hội giúp cải thiện quá trình thương lượng tập thể, cho phép người lao động được hưởng lợi ích công bằng hơn và cho phép doanh nghiệp thỏa thuận những cải thiện năng suất cần thiết.

Một nội dung thay đổi lớn khác là Bộ luật Lao động mở rộng phạm vi bảo vệ tới những người lao động được tuyển dụng nhưng không được ký hợp đồng lao động bằng văn bản. Nhờ có sự tham vấn chặt chẽ, các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động giờ đây được quy định rõ ràng hơn, cũng như đã có thêm các quyền và quy trình thể chế mới, theo TS. Lee.

Điểm tiến bộ được thể hiện ở những định nghĩa mới về phân biệt đối xử và quấy rối, việc cho phép người lao động được đơn phương nghỉ việc với điều kiện có thông báo trước một cách phù hợp. Bộ Luật cũng đưa ra những hướng dẫn chi tiết hơn về cưỡng bức lao động và lao động chưa thành niên, giúp người sử dụng lao động hiểu rõ hơn những gì được pháp luật cho phép và không cho phép, cũng như giúp tăng cường năng lực của thanh tra lao động trong việc tư vấn và thực thi pháp luật trong những lĩnh vực này.

Cùng với quyền tự do hiệp hội, xóa bỏ phân biệt đối xử, lao động trẻ em và lao động cưỡng bức là 4 nguyên tắc được đặt ra trong 8 công ước cơ bản của ILO trong khuôn khổ Tuyên bố 1998. Việt Nam đã phê chuẩn 6 trên 8 công ước này, hai công ước còn lại là Công ước số 105 về lao động cưỡng bức và Công ước số 87 về tự do hiệp hội – dự kiến sẽ được phê chuẩn lần lượt vào các năm 2020 và 2023.

Giám đốc ILO Việt Nam khẳng định, tôn trọng các công ước cơ bản của ILO là yêu cầu trọng tâm của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới bao gồm: Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)  và Hiệp định Thương mại tự do EU- Việt Nam (EVFTA) cũng như của các chính sách về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp của nhiều tập đoàn đa quốc gia.

Bộ Luật Lao động sửa đổi đóng vai trò quan trọng, mở đường cho việc thực hiện một cách đầy đủ Tuyên bố 1998 của ILO, “bởi bộ luật tạo khung pháp luật tốt hơn về việc làm và quan hệ lao động, giúp tăng trưởng công bằng và bền vững, trong bối cảnh Việt Nam đang phấn đấu trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao. Điều này cũng sẽ góp phần đáng kể để đạt được tiến bộ về việc làm thỏa đáng cho mọi người lao động, cả nam và nữ, ông Chang – Hee Lee nhấn mạnh.

Giữ nguyên giờ làm việc bình thường

Bộ luật Lao động sửa đổi giữ quy định hiện hành là không quá 8 giờ/ngày và 48 giờ/tuần. Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần nhưng phải thông báo cho người lao động biết; trường hợp theo tuần thì giờ làm việc không quá 10 giờ/ngày và không quá 48 giờ/tuần. Giờ làm việc ban đêm được tính từ 22h đến 6h sáng hôm sau. Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ.

Đây là nội dung nhận được nhiều ý kiến khác nhau trong thảo luận. Nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội đề nghị giảm giờ làm việc bình thường từ 48 giờ/tuần xuống 44 giờ/tuần; một số ý kiến đại biểu đề nghị giữ như quy định hiện hành về thời giờ làm việc bình thường là 48 giờ/tuần, đồng thời có ý kiến đại biểu đề nghị cần hết sức cân nhắc khi thay đổi quy định về thời giờ làm việc bình thường trong bối cảnh hiện nay do đây là vấn đề lớn, chưa có đánh giá tác động một cách đầy đủ.

Chia sẻ thêm về vấn đề này với báo chí bên hành lang Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung cho biết, việc giảm giờ làm việc bình thường là vấn đề rất lớn, tác động rất sâu rộng đến tất cả các chủ thể, đối tượng do đó cần đánh giá toàn diện, sâu sắc và đầy đủ. Chính phủ sẽ xem xét, đánh giá trên cơ sở từng giai đoạn cụ thể để thời điểm thích hợp trình Quốc hội xem xét.

“Tôi nghĩ có thể 2 hoặc 3 năm hoặc có thể dài hơn. Nhưng nếu điều kiện cho phép thì làm sớm hơn, cái này rất linh hoạt và chúng tôi mong muốn nếu điều kiện kinh tế, xã hội tốt lên thì có thể giảm dần giờ làm việc bình thường càng sớm càng tốt theo hướng đó”, Bộ trưởng Đào Ngọc Dung thông tin.

Không tăng giờ làm thêm

Bộ luật Lao động sửa đổi quy định người sử dụng lao động chỉ được sử dụng lao động làm thêm giờ khi có sự đồng ý của người lao động. Số giờ làm thêm không quá 50% số giờ làm việc bình thường mỗi ngày. Nếu doanh nghiệp tính giờ làm việc theo tuần, tổng số giờ làm việc và làm thêm không quá 12 giờ/ngày; không quá 40 giờ/tháng. Doanh nghiệp đảm bảo giờ làm thêm của người lao động không quá 200 giờ mỗi năm.

Làm thêm không quá 300 giờ/năm được áp dụng với các ngành, nghề bao gồm: Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm hàng dệt, may, da, giày, điện, điện tử, chế biến nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản; sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước; trường hợp công việc đòi hỏi lao động trình độ chuyên môn kỹ thuật cao mà thị trường không cung ứng đầy đủ; trường hợp giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn vì có tính thời vụ; giải quyết công việc phát sinh do yếu tố khách quan không dự liệu trước do hậu quả thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn, thiếu điện, sự cố dây chuyền sản xuất.

Với các trường hợp được làm thêm đến 300 giờ, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.

Đây cũng là nội dung nhận được nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội, trong đó có một số ý kiến đồng ý với việc cần nâng khung thỏa thuận giờ làm thêm tối đa từ 300 giờ lên 400 giờ trong một năm.

Uỷ ban thường vụ Quốc hội qua xin tiếp thu ý kiến đã nhận được bày tỏ chính kiến từ 406 đại biểu, trong đó có 318 đại biểu đồng ý giữ khung thỏa thuận giờ làm thêm tối đa như Bộ luật hiện hành, nhưng cần ghi rõ thời gian làm thêm giờ theo tháng là 40 giờ/tháng thay vì 30 giờ/tháng và bổ sung quy định cụ thể về các trường hợp được tổ chức làm thêm giờ từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm.

Dự thảo Bộ Luật (Điều 107) đã được tiếp thu, chỉnh lý theo hướng này. Quy định về làm thêm giờ được 433 đại biểu tán thành (89,65%); 14 đại biểu không tán thành (2,9%) và 7 đại biểu không biểu quyết (1,45%).

Thêm ngày nghỉ 2/9

Bộ luật Lao động sửa đổi bổ sung thêm 01 ngày nghỉ trong năm vào ngày liền kề với ngày Quốc khánh, có thể là 01/9 hoặc 03/9 Dương lịch tùy theo từng năm.

Như vậy, tổng số ngày nghỉ lễ, tết hàng năm sẽ nâng lên 11 ngày, trong đó:

– Tết Dương lịch: 01 ngày;

– Tết Âm lịch: 05 ngày;

– Ngày Chiến thắng (30/4 Dương lịch): 01 ngày;

– Ngày Quốc tế lao động (01/5 Dương lịch): 01 ngày;

– Ngày Quốc khánh: 02 ngày;

– Ngày Giỗ tổ Hùng Vương (10/3 Âm lịch): 01 ngày.

Trong những ngày này, người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương.

Tăng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình

Người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi đủ tuổi nghỉ hưu.

Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.

Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 3 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 4 tháng đối với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 3 tháng đối với lao động nam và 4 tháng đối với lao động nữ.

Người lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn nhưng không quá 05 tuổi so với quy định tại khoản 2 Điều này tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao và một số trường hợp đặc biệt có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 tuổi so với quy định tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Bộ luật Lao động sửa đổi sẽ có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 và Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 hết hiệu lực kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực. Kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực thi hành, hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, những thỏa thuận hợp pháp đã giao kết có nội dung không trái hoặc bảo đảm cho người lao động có quyền và những điều kiện thuận lợi hơn so với quy định của Bộ luật này được tiếp tục thực hiện, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận về việc sửa đổi, bổ sung để phù hợp với Bộ luật này và để áp dụng quy định của Bộ luật này.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

twelve + 12 =