Quan hệ lao động

Industrial relations/ Labour relations

Những mối quan hệ cá nhân và tập thể giữa những người lao động và những người sử dụng lao động tại nơi làm việc và nảy sinh từ công việc, cũng như những mối quan hệ giữa các đại diện của những người lao động và người sử dụng lao động ở cấp ngành, cấp quốc gia, và sự tương tác của những chủ thể này với nhà nước. Những mối quan hệ như thế xoay quanh các khía cạnh về luật pháp, kinh tế, xã hội học và tâm lý học và bao gồm cả những vấn đề như: tuyển dụng, thuê mướn, sắp xếp công việc, đào tạo, kỷ luật, thăng chức, buộc thôi việc, kết thúc hợp đồng, làm ngoài giờ, tiền thưởng, phân chia lợi nhuận, giáo dục, y tế, an toàn, giải trí, chỗ ở, giờ làm việc, nghỉ ngơi, nghỉ phép và các phúc lợi cho người thất nghiệp, ốm đau, tai nạn, tuổi cao và tàn tật.

(David Macdonald and Caroline Vardenabeele, 1996, Glossary of Industrial Relations and Related Terms)

Là một hệ thống các mối quan hệ được xác lập giữa các chủ thể trong quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm và/hoặc dịch vụ mà quan hệ đó bao gồm người sử dụng lao động, người lao động/công nhân, và chính phủ và dựa trên cơ sở những giá trị của Pancasila và Hiến pháp năm 1945 của Nhà nước Cộng hòa Indonesia.

(Indonesia, Luật Nhân lực, 2003, Điều 1)

Quan hệ lao động là quan hệ được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc người lao động thực hiện một trách nhiệm công việc cá nhân để được trả công (công việc có chuyên môn, bằng cấp, chức vụ nhất định), người lao động phải tuân thủ nội quy lao động và được người sử dụng lao động bảo đảm điều kiện lao động theo pháp luật lao động, hợp đồng tập thể, thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động.

(Nga, Bộ luật Lao động, 2001, Điều 15)

EnglishVietnam