Việt Nam phải làm gì khi tham gia CPTPP đối với vấn đề lao động?

Thông tin chung

Ngày 12/11/2018, Quốc hội Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương, gọi tắt là CPTPP. Sau khi được 6 quốc gia thông qua (gồm Australia, Canada, Nhật Bản, Mexico, New Zealand và Singapore), CPTPP đã đủ điều kiện để có hiệu lực từ 30/12/ 2018. Việt Nam đã trở thành nước thứ 7 phê chuẩn hiệp định này.

CPTPP, hay còn gọi là TPP 11, có “tiền thân” là Hiệp định đối tác xuyên TBD (TPP) với quá trình đàm phán được khởi động từ tháng 3 năm 2010. TPP là hiệp định có sự tham gia của 12 quốc gia bao gồm Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Mỹ, Singapore và Việt Nam. Trải qua gần 6 năm đàm phán, 12 nước đã kết thúc quá trình đàm phán và lễ ký kết TPP diễn ra vào tháng 2/2016. Tuy nhiên, khi Tổng thống Mỹ Donald Trump lên nắm quyền, Mỹ tuyên bố rút khỏi hiệp định TPP. Tháng 11/2017, 11 quốc gia còn lại quyết định đổi tên từ TPP sang CPTPP. Đến tháng 3/2018, các bên chính thức ký kết CPTPP.

Nội dung cơ bản về lao động trong CPTPP

Đối với vấn đề lao động, có một số nét giống và khác nhau giữa cam kết trong CPTPP và TPP như sau: cam kết về lao động của Việt Nam trong cả hai hiệp định đều bao gồm cam kết chung trong Chương 19 – Chương Lao động. Sự khác nhau nằm ở cam kết riêng, trong TPP là bao gồm cam kết song phương với phía Mỹ còn trong CPTPP là Thư trao đổi song phương với 10 nước còn lại.

Đối với cam kết chung trong Chương 19 – Lao động, các nước, trong đó có Việt Nam phải nội luật hóa và đảm bảo triển khai trong thực tiễn những quy định về 4 quyền lao động cơ bản trong Tuyên bố năm 1998 của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO bao gồm: 1) tự do liên kết và thương lượng tập thể; 2) xóa bỏ lao động cưỡng bức và bắt buộc; 3) cấm sử dụng lao động trẻ em, xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất và 4) xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp. Ngoài ra, các quốc gia thành viên cũng cần quy định trong luật pháp và thực hiện trong thực tiễn những quy định về điều kiện làm việc có thể chấp nhận được bao gồm lương tối thiểu, giờ làm việc và an toàn sức khỏe nghề nghiệp.

Cam kết riêng của Việt Nam được thể hiện trong thư trao đổi của Việt Nam với 10 nước gồm 4 đoạn như sau:

  • Việt Nam cam kết thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong Chương Lao động kể từ ngày CPTPP có hiệu lực với VN
  • Nếu VN vi phạm các cam kết trong Chương Lao động thì các nước sẽ không áp dụng trừng phạt thương mại đối với Việt Nam trong vòng 3 năm kể từ ngày CPTPP có hiệu lực.
  • Nếu VN vi phạm cam kết về tự do liên kết và thương lượng tâp thể thì các nước sẽ không áp dụng trừng phạt thương mại trong thời gian 5 ăm kể từ ngày CPTPP có hiệu lực
  • Trong khoảng thời gian từ khi CPTPP có hiệu lực 5 năm đến trước khi CPTPP có hiệu lực 7 năm, các vấn đề liên quan tới vi phạm của Việt Nam (nếu có) về tự do liên kết sẽ được các bên rà soát trong khuôn khổ Hội đồng Lao động theo điều 19.12

Để có thể thực thi Chương Lao động, các quốc gia thành viên cần thực hiện một số sắp xếp về bộ máy như sau:

  • Đầu mối liên lạc quốc gia là một đơn vị hoặc một cán bộ trong Bộ Lao động của mỗi nước để giải quyết các vấn đề liên quan đến Chương Lao động trong vòng 90 ngày kể từ ngày CPTPP có hiệu lực với nước đó. Đầu mối liên lạc có nhiệm vụ tiếp nhận thông tin, trao đổi với Đầu mối của nước khác; hỗ trợ hội đồng Lao động, tiếp nhận thông tin, đơn thư từ công chúng và thực hiện hợp tác song phương hoặc đa phương.
  • Hội đồng lao động gồm đại diện cấp Bộ hoặc cấp Cục/Vụ thay mặt cho Bộ của các nước thành viên. Hội đồng họp ngay trong vòng 1 năm kể từ khi CPTPP có hiệu lực và sau đó là 2 năm/lần. Hội đồng có nhiệm vụ rà soát, đánh giá việc thực hiện Chương Lao động; rà soát báo cáo từ đầu mối liên lạc của các nước; tạo điều kiện cho sự tham gia của công chúng và quyết định các vấn đề khác theo thỏa thuận của các bên. Quyết định của hội đồng được đưa ra theo nguyên tắc đồng thuận.

Liên quan đến cơ chế thực thi Chương Lao động trong CPTPP, các vấn đề phát sinh có thể được xử lý qua 3 kênh: đơn thư của công chúng, đối thoại mang tính hợp tác và tham vấn. Trong đó, cá nhân hoặc tổ chức có thể gửi đơn thư tới đầu mối liên lạc do các nước thành viên chỉ định. Điều kiện đối với đơn thư là vấn đề phát sinh liên quan trực tiếp đến Chương Lao động, không nặc danh và giải thích được sự ảnh hưởng của vấn đề nêu trong đơn thư đối với thương mại và đầu tư giữa các bên.

Các bước xử lý bất đồng: 1) Nơi tiếp nhận đơn thư có thể trao đổi, làm rõ thông tin và phải thụ lý, trả lời bằng văn bản cho bên đệ đơn. 2) Cơ chế đối thoại mang tính hợp tác có thể do một bên đề xuất bất cứ lúc nào và bất cứ vấn đề gì liên quan đến Chương Lao động và đối thoại sẽ tiến hành trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu. 3) Cơ chế tham vấn là bước tiếp theo sẽ được tiến hành trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tham vấn và các bên có thể sử dụng tư vấn, chuyên gia độc lập, thủ tục giảng hòa, hòa giải hoặc trung gian, và 4) Bước cuối cùng là cơ chế giải quyết tranh chấp của Hiệp định và bước này có thể dẫn đến đình chỉ ưu đãi thương mại hay trừng phạt thương mại.

CIRD

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *