Toàn văn báo cáo tình hình xây dựng và triển khai thực hiện Đề án Phát triển Quan hệ lao động

Trung tâm Hỗ trợ phát triển quan hệ lao động trân trọng giới thiệu toàn văn báo cáo tình hình xây dựng và triển khai thực hiện Đề án Phát triển Quan hệ lao động trên địa bàn tỉnh/thành phố giai đoạn 2013 – 2020. Báo cáo này là nội dung của phiên đầu tiên trong Hội nghị sơ kết Đề án Phát triển Quan hệ lao động do Bộ Lao động – Thương Binh và Xã hội tổ chức ngày 24 và 25/3/2016.

CIRD – “Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 4690/VPCP-KGVX ngày 11/6/2013 của Văn phòng Chính phủ và Nghị quyết số 97/NQ-CP ngày 26/12/2014 của Chính phủ, đến nay đã có 06 tỉnh, thành phố xây dựng và ban hành được Đề án phát triển quan hệ lao động trên địa bàn từng tỉnh, thành phố trong giai đoạn 2013-2020. Qua tình hình thực tế triển khai tại các địa phương, có thể khái quát đánh giá về tình tình xây dựng và thực hiện Đề án trên một số nội dung cơ bản như sau:

I. VỀ TRIỂN KHAI XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

1. Sự cần thiết và căn cứ xây dựng Đề án

Trong những năm qua, thực hiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, kinh tế của cả nước nói chung và từng tỉnh, thành phố, nhất là các tỉnh, thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm nói riêng luôn duy trì được sự tăng trưởng tương đối cao và ổn định; vốn đầu tư trong nước và nước ngoài liên tục tăng nhanh; cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực, tạo được nhiều việc làm cho người lao động. Nhiều chính sách về lao động, dạy nghề, tạo việc làm, tiền lương, quan hệ lao động, bảo hiểm xã hội… được tiếp tục đổi mới, hoàn thiện, góp phần tích cực cho việc cải thiện điều kiện lao động, nâng cao thu nhập, đời sống, an sinh xã hội cho người lao động, làm cho thị trường lao động từng bước được vận hành theo quan hệ cung – cầu của kinh tế thị trường. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì tình hình quan lao động trên phạm vi cả nước nói chung và đặc biệt là tại các tỉnh, thành phố thuộc các vùng kinh tế trọng điểm nói riêng đã và đang đặt ra nhiều vấn đề phức tạp như tranh chấp lao động, đình công không theo trình tự, thủ tục tiếp tục phát sinh, làm ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế, môi trường đầu tư, an ninh trật tự xã hội; sự vận hành của hệ thống các cơ chế, thiết chế quan hệ lao động của từng tỉnh, thành phố cũng còn thiếu đồng bộ, chưa theo kịp sự đòi hỏi của thực tế…. Từ thực tế trên, để giúp các địa phương chủ động, tích cực hình thành các chương trình, kế hoạch tổng thể trong việc triển khai có hiệu quả Chỉ thị số 22-CT/TW ngày 05/6/2008 của Ban Bí thư, Bộ luật Lao động 2012, Luật công đoàn 2012 và các chính sách có liên quan về phát triển quan hệ lao động phù hợp với điều kiện đặc thù, trên cơ sở đề nghị của Ủy ban quan hệ lao động quốc gia, tại văn bản số 4690/VPCP-KGVX ngày 11/6/2013 của Văn phòng Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo 05 tỉnh, thành phố gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đồng Nai, Bình Dương xây dựng và triển khai thực hiện Đề án phát triển quan hệ lao động trên địa bàn đến năm 2020 và tại Nghị quyết số 97/NQ-CP ngày 26/12/2014, Chính phủ tiếp tục yêu cầu các tỉnh, thành phố có nhiều doanh nghiệp, nhiều khu công nghiệp cần phải triển khai xây dựng Đề án phát triển quan hệ lao động trên địa bàn đến năm 2020.

2. Các bước chung về xây dựng Đề án

Căn cứ chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Nghị quyết số 97/NQ-CP của Chính phủ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã giao Trung tâm Hỗ trợ phát triển quan hệ lao động tích cực, chủ động phối hợp, hỗ trợ các tỉnh, thành phố tiến hành các bước triển khai xây dựng Đề án. Quy trình chung, các tỉnh, thành phố đều giao Sở Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Trung tâm Hỗ trợ phát triển quan hệ lao động và Sở, ngành liên quan triển khai xây dựng Đề án theo 03 bước cơ bản, đó là:

Khảo sát đánh giá thực trạng quan hệ lao động. Đây là bước giúp có được bức tranh tổng thể về thực trạng quan hệ lao động theo từng địa bàn, từ đó xác định những vấn đề trọng tâm, ưu tiên trong việc đề ra các giải pháp phát triển quan hệ lao động.

– Xây dựng dự thảo Đề án. Đây là bước quan trọng nhất, được các địa phương tập trung triển khai. Các Đề án đều được Sở Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp chặt chẽ với Trung tâm Hỗ trợ phát triển Quan hệ lao động để dự thảo và lấy ý kiến các sở, ban, ngành liên quan qua nhiều vòng để tổng hợp ý kiến, hoàn thiện trước khi trình cấp có thẩm quyền.

– Trình ban hành và công bố Đề án. Sau khâu hoàn thiện dự thảo, các Đề án được trình cho UBND cấp tỉnh ký ban hành, có địa phương như thành phố Hồ Chí Minh còn được trình Ban Chỉ đạo quan hệ lao động của Thành ủy cho ý kiến trước khi chuyển UBND ban hành. Sau khi ban hành, các tỉnh, thành phố tổ chức công bố Đề án để giới thiệu rộng rãi nội dung tới các đối tượng liên quan và xã hội, tạo thuận lợi cho quá trình triển khai thực hiện.

3. Kết quả xây dựng Đề án của các tỉnh, thành phố

Tính đến nay, cả nước đã có 06 tỉnh, thành phố xây dựng và ban hành Đề án gồm Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đồng Nai, Bình Dương và Bình Phước, trong đó ban hành sớm nhất là Bình Dương (ngày 27/11/2013) và gần đây nhất là Bình Phước (ngày 17/8/2015).

II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐỀ ÁN

Nội dung các Đề án được xây dựng gắn với điều kiện cụ thể của từng địa phương. Trên cơ sở đánh giá cụ thể tình hình thực trạng quan hệ lao động trên địa bàn, các Đề án đề ra các mục tiêu, giải pháp và phân công trách nhiệm trong tổ chức triển khai thực hiện.

1. Về mục tiêu

– Các Đề án đều đề ra mục tiêu tổng quát là phấn đấu đến năm 2020, cơ bản xây dựng được đồng bộ và đi vào vận hành hệ thống quan hệ lao động của tỉnh, thành phố phù hợp với cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, bảo đảm hài hòa quyền và lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ lao động, tạo nền tảng duy trì và phát triển mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ cho những năm tiếp theo.

– Từ mục tiêu chung, tùy từng địa phương có đề ra các mục tiêu chi tiết với những bước đi cụ thể, trong đó có hướng tới 3 mục tiêu chi tiết cần đạt được, đó là:

+ Bảo đảm triển khai việc xây dựng, củng cố và vận hành các thiết chế quan hệ lao động phù hợp với các quy định của Bộ luật lao động 2012, Luật Công đoàn 2012, các quy định của pháp luật liên quan và các tiêu chuẩn, cam kết quốc tế gắn với quan hệ lao động.

+ Trong giai đoạn trước 2016 hoặc 2017, cùng với việc triển khai thực hiện các quy định pháp luật về quan hệ lao động, tập trung thực hiện có hiệu quả các hoạt động thí điểm về một số nội dung trọng yếu của quan hệ lao động theo yêu cầu thực tiễn để định hướng hoàn thiện cơ chế vận hành các hoạt động trong hệ thống quan hệ lao động phù hợp theo cơ chế thị trường.

+ Trên cơ sở kết quả thí điểm giai đoạn I, giai đoạn đến năm 2020, tập trung thực hiện củng cố những nội dung, hoạt động cơ bản của hệ thống quan hệ lao động của tỉnh, thành phố làm cơ sở cho việc phát triển quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ và tạo tiền đề cho những năm sau 2020.

2. Về giải pháp

Các Đề án đều tập trung vào 5 nhóm giải pháp chính, trong mỗi nhóm giải pháp gồm có các hoạt động cụ thể nhằm tạo sự chuyển biến tích cực cho việc phát triển quan hệ lao động theo từng địa bàn. Cụ thể:

Nhóm giải pháp thứ nhất là tăng cường năng lực quản lý và hỗ trợ QHLĐ của cơ quan nhà nước và các thiết chế QHLĐ. Trong nhóm giải pháp này tập trung vào các hoạt động chính là: (i) Rà soát, đánh giá tổng thể hiện trạng quan hệ lao động; (ii) Hình thành bộ máy chuyên trách về QHLĐ; (iii) Tăng cường năng lực hoạt động của thanh tra lao động; (iv) Thí điểm xây dựng hồ sơ QHLĐ đối với doanh nghiệp có nguy cơ cao về tranh chấp lao động; (v) Tổ chức và nâng cao năng lực đội ngũ hòa giải viên lao động; (vi) Nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác QHLĐ; (vii) Đẩy mạnh hoạt động truyền thông… Đây là nhóm giải pháp trụ cột, nhằm hướng tới mục tiêu là từng bước bảo đảm cho Nhà nước thực hiện được tốt các chức năng trong quản lý và hỗ trợ thúc đẩy phát triển quan hệ lao động phù hợp theo cơ chế thị trường.

– Nhóm giải pháp thứ hai là tăng cường năng lực các chủ thể, đặc biệt là công đoàn. Trong nhóm giải pháp này tập trung vào các hoạt động cơ bản là: (i) Thí điểm về vai trò của công đoàn cấp trên cơ sở; (ii) Thí điểm đổi mới việc thành lập công đoàn cơ sở theo cách tiếp cận từ cơ sở; (iii) Xây dựng đội ngũ chuyên trách về QHLĐ của liên đoàn lao động; (iv) Thí điểm việc liên đoàn lao động đưa ra gợi ý nội dung thỏa ước LĐTT để công đoàn cơ sở làm căn cứ thương lượng… Mục tiêu của nhóm giải pháp này là tập trung vào thực hiện có hiệu quả các quy định của Luật công đoàn, bảo đảm cho công đoàn từng bước là tổ chức do chính người lao động bầu ra, có đủ năng lực đại diện, để bảo vệ các quyền lợi cho tập thể lao động trong quan hệ lao động.

Nhóm giải pháp thứ ba là tạo lập và nâng cao hiệu quả hoạt động đối thoại, thương lượng và ký thỏa ước lao động tập thể. Trong nhóm giải pháp này tập trung vào các hoạt động cơ bản là: (i) Thí điểm hoạt động hỗ trợ của bên thứ ba trong đối thoại, thương lượng ở doanh nghiệp; (ii) Thí điểm về đối thoại có hiệu quả tại doanh nghiệp; (iii) Thí điểm tổ chức đối thoại nhóm doanh nghiệp… Đây là những nội dung đã được đặt ra trong Bộ luật Lao động, tuy nhiên qua quá trình triển khai thực tế còn nhiều bất cập, một số nội dung cũng mới được đề cập như xác lập vai trò hỗ trợ của bên thứ 3, đối thoại thương lượng cấp nhóm doanh nghiệp… Do đó, mục đích của nhóm giải pháp này là từng bước thí điểm, tiến tới thúc đẩy thực hiện đồng bộ có hiệu quả các hình thức tương tác chính giữa các chủ thể để thiết lập quan hệ lao động tập thể hài hòa, ổn định.

– Nhóm giải pháp thứ tư là chủ động giảm thiểu tranh chấp lao động tập thể và đình công. Trọng tâm của nhóm giải pháp này là hoạt động về cải tiến chu trình giải quyết đình công không theo trình tự thủ tục theo hướng từng bước phù hợp với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế, trên cơ sở đó dần dần định hình cơ chế giải quyết các cuộc tranh chấp lao động và đình công theo đúng các quy định của luật.

– Nhóm giải pháp thứ năm là cải thiện môi trường kinh tế – xã hội có tác động đến QHLĐ, trong đó tập trung vào 02 nhóm hoạt động chính là: (i) Cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động; (ii) Triển khai chính sách nhà ở cho công nhân ở các khu công nghiệp.

05 nhóm giải pháp trên về cơ bản đã bảo đảm bao quát được các cấu phần của hệ thống quan hệ lao động xét trên cả phạm vi quốc gia và trên từng địa bàn theo cấp tỉnh, thành phố.

3. Về phân công trách nhiệm

Các Đề án đều có sự phân chia quá trình thực hiện theo hai giai đoạn. Giai đoạn I, thực hiện trong khoảng thời gian từ 2013 hoặc 2014 đến 2016 hoặc 2017; giai đoạn II, từ 2016 hoặc 2017 đến 2020.

Trong từng giai đoạn, căn cứ theo chức năng nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, các Đề án đều có sự phân công trách nhiệm chủ trì và phối hợp giữa các sở, ban, ngành liên quan ở cấp tỉnh và cấp huyện trong việc tổ chức triển khai thực hiện một cách rạch ròi, trong đó đối với các hoạt động thuộc nhóm giải pháp 1 và 4 chủ yếu do Sở Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì, nhóm giải pháp 2 và 3 do Liên đoàn lao động và nhóm giải pháp 5 có sự phân công phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành trong tỉnh, thành phố để cùng triển khai thực hiện.

Kinh phí triển khai thực hiện các hoạt động của Đề án đều được bảo đảm từ ngân sách của tỉnh, thành phố căn cứ trên kế hoạch triển khai hằng năm và các nguồn hợp pháp khác. Có những tỉnh, thành phố như Hà Nội, Bình Dương phê duyệt ngay mức tổng kinh phí cho cả giai đoạn trong Đề án, tạo thuận lợi cho việc triển khai thực hiện.

III. TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN MỘT SỐ NỘI DUNG ĐỀ ÁN

1. Về công tác xây dựng kế hoạch triển khai Đề án

Sau khi ban hành Đề án, tất cả các tỉnh, thành phố đều xây dựng và ban hành (UBND ban hành chung hoặc từng Sở, ngành) kế hoạch triển khai giai đoạn I các nội dung Đề án, trong đó đều có sự xác định cụ thể các nhiệm vụ triển khai, sự phân công trách nhiệm giữa các cơ quan và sự bảo đảm về nguồn lực thực hiện.

2. Về triển khai thực hiện các nội dung của Đề án

Căn cứ trên kế hoạch chi tiết của từng địa phương, đến nay nhiều hoạt động đề ra trong Đề án bước đầu đã được tổ chức triển khai, trong đó:

a) Ở nhóm giải pháp thứ nhất – Tăng cường năng lực quản lý và hỗ trợ QHLĐ của cơ quan nhà nước và các thiết chế QHLĐ cho thấy:

– Tất cả các tỉnh, thành phố có Đề án đều đã đẩy mạnh việc tổ chức tập huấn nâng cao năng lực chuyên môn về quan hệ lao động trong kinh tế thị trường và hội nhập đối với đội ngũ công chức, viên chức làm công tác quan hệ lao động. Đồng thời, thông qua Đề án 31 cũng có sự tăng cường tập huấn, tuyên truyền phổ biến kiến thức chuyên môn, pháp luật về quan hệ lao động đối với cả người lao động và người sử dụng lao động.

– Đội ngũ công chức, viên chức làm công tác quan hệ lao động được tăng cường thêm một bước. Mặc dù có sự ràng buộc giới hạn bởi vấn đề tổ chức, biên chế song để triển khai Đề án, ở đa số các Sở LĐTBXH, điển hình như thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai… đều đã có sự sắp xếp lại biên chế để bố trí cán bộ chuyên trách đảm nhiệm về công tác quan hệ lao động.

– Công tác tăng cường năng lực thanh tra đều đã được các địa phương tổ chức triển khai theo lộ trình của Đề án nâng cao năng lực thanh tra đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

– Đội ngũ hòa giải viên lao động được các địa phương tiến hành sắp xếp lại về mặt đội ngũ theo quy định tại Nghị định số 46/2013/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư số 08/2013/TT-BLĐTBXH của Bộ LĐTBXH.

– Hoạt động xây dựng Hồ sơ quan hệ lao động được thí điểm triển khai tại Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh. Đối với Đồng Nai, hoạt động này đã chuyển sang giai đoạn thí điểm để hòa giải viên lao động tham gia hỗ trợ một số doanh nghiệp cải thiện điều kiện lao động. Đối với Hà Nội, Hải Phòng đã xong giai đoạn tập huấn chuyên môn đối với đội ngũ hòa giải viên tham gia lập hồ sơ và dự kiến sẽ triển khai thí điểm trong thời gian tới.

b) Ở nhóm giải pháp thứ hai – Tăng cường năng lực các chủ thể, đặc biệt là công đoàn cho thấy, các hoạt động thí điểm được tập trung vào 4 nhóm nội dung chính, bao gồm: (i) thí điểm việc thành lập công đoàn cơ sở từ dưới lên; (ii) đổi mới về cơ cấu tổ chức, cách thức lựa chọn cán bộ công đoàn cơ sở có đủ năng lực xây dựng quan hệ lao động hài hòa ổn định trong các doanh nghiệp; (iii) Thí điểm việc công đoàn cấp trên đưa ra gợi ý nội dung TƯLĐTT để công đoàn cơ sở làm căn cứ thương lượng. Các hoạt động được triển khai với sự chỉ đạo, hướng dẫn thống nhất từ cấp Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tới địa phương, trong đó Hải Phòng, Đồng Nai, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh là 4 tỉnh, thành phố đang tích cực triển khai các thí điểm này và bước đầu đã có những chuyển biến nhất định.

c) Ở nhóm giải pháp thứ ba – Tạo lập và nâng cao hiệu quả hoạt động đối thoại, thương lượng và ký thỏa ước lao động tập thể, sự ghi nhận bước đầu ở các địa phương thời gian qua đó là sự tập trung vào các hoạt động hỗ trợ các doanh nghiệp triển khai các hoạt động đối thoại theo quy định tại Nghị định số 60/2013/NĐ-CP. Ngoài ra, hoạt động về thí điểm thương lượng nhóm doanh nghiệp cũng bước đầu được triển khai tại thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đồng Nai và Bình Dương.

d) Ở nhóm giải pháp thứ tư – Giảm thiểu tranh chấp lao động tập thể và đình công, hoạt động được triển khai trọng tâm thời gian qua ở các tỉnh, thành phố là tiến hành sửa đổi lại quy chế về giải quyết các cuộc đình công không theo trình tự thủ tục. Hiện thành phố Hồ Chí Minh (bao gồm cả Quận 7) là địa phương có sự phối hợp chặt chẽ với Trung tâm Hỗ trợ phát triển quan hệ lao động để đánh giá, sửa đổi lại quy định về giải quyết đình công không theo trình tự, thủ tục theo cách tiếp cận mới nhằm từng bước định hình cơ chế giải quyết các cuộc tranh chấp lao động và đình công phù hợp với cơ chế thị trường. Dự kiến quy chế của thành phố Hồ Chí Minh sẽ được bàn hành trong thời gian tới. Đối với các tỉnh, thành phố khác, hoạt động này cũng đã và đang được triển khai.

e) Ở nhóm giải pháp thứ năm – Cải thiện môi trường kinh tế – xã hội có tác động đến QHLĐ. Đây là nhóm giải pháp lớn, nhất là chính sách về nhà ở đối với người lao động, liên quan trực tiếp tới các kế hoạch, quy hoạch và nguồn lực cụ thể của từng địa phương nên thời gian qua, các tỉnh, thành phố vẫn đang tập trung triển khai theo các chương trình tổng thể đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, tuy nhiên do giới hạn về mặt nguồn lực nên việc triển khai các hoạt động thuộc nhóm giải pháp này ở các tỉnh nhìn chung vẫn còn manh mún, chưa tạo được những đột phá có tính nổi bật, nhất là trong vấn đề nhà ở và xây dựng các công trình phúc lợi, cơ sở hạ tầng phục vụ công nhân lao động trong các khu công nghiệp tập trung.

IV. MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT

1. Mặt được

Qua tình hình xây dựng và triển khai thực hiện Đề án tại các tỉnh, thành phố có thể khái quát đánh giá một số kết quả như sau:

– Thông qua việc xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện Đề án cho thấy vấn đề quan hệ lao động đã được các cấp lãnh đạo tỉnh ủy, ủy ban quan tâm. Ngay sau khi có chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố được giao xây dựng Đề án đều nhanh chóng có sự chỉ đạo các cơ quan chuyên môn phối hợp để triển khai xây dựng, phê duyệt và sau đó là công tác chỉ đạo lập kế hoạch triển khai, trong đó với Thành phố Hồ Chí Minh, việc xây dựng và triển khai thực hiện Đề án này còn có sự tham gia chỉ đạo trực tiếp từ cấp Thành ủy. Điều này tạo thuận lợi nhất định cho các cơ quan chuyên môn của tỉnh, thành phố trong xác lập các căn cứ để phối hợp tổ chức triển khai thực hiện.

Thông qua việc xây dựng, ban hành và triển khai Đề án cũng làm cho nhận thức của các cấp, các ngành và cá nhân liên quan về quan hệ lao động của các tỉnh, thành phố ngày càng được cải thiện. Sự cải thiện này được bổ sung thông qua các nội dung thông tin tương đối đồng bộ theo các cấu phần của hệ thống quan hệ lao động được xác lập trong Đề án; thông qua các hoạt động tuyên truyền, phố biến, tập huấn, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ liên quan đến nội dung Đề án; và ngay trong quá trình trực tiếp tổ chức triển khai của các tổ chức, cá nhân liên quan. Điều này có ý nghĩa quan trọng và là nền tảng cho việc thúc đẩy thực hiện các giải pháp pháp triển quan hệ lao động trên từng địa bàn một cách phù hợp, đúng hướng.

Việc ban hành Đề án đã tạo được cơ sở pháp lý quan trọng cho việc triển khai các giải pháp đồng bộ về phát triển quan hệ lao động cho từng địa bàn. Thực tế, trước khi có Đề án, các hoạt động chủ yếu thực hiện mang tính độc lập, tách rời, dựa trên các yêu cầu của pháp luật chung và thực tế phát sinh theo từng lĩnh vực. Sau khi ban hành Đề án, các hoạt động triển khai theo từng nhóm giải pháp được thực hiện theo yêu cầu mang tính pháp lý của cấp tỉnh, thành phố, có sự chỉ đạo, giám sát, đánh giá thống nhất, tập trung và được bảo đảm các nguồn lực thực hiện. Do đó, Đề án sẽ chính là những căn cứ cụ thể để đánh giá mức độ chuyển biến về quan hệ lao động của từng địa phương trong từng giai đoạn nhất định.

Một số hoạt động của Đề án như như việc sắp xếp lại đội ngũ hòa giải viên lao động, xây dựng hồ sơ quan hệ lao động, tăng cường năng lực thanh tra lao động, thí điểm đổi mới cơ chế thành lập công đoàn cơ sở, thí điểm thương lượng nhóm doanh nghiệp, đổi mới quy trình giải quyết đình công không theo trình tự, thủ tục…, bước đầu đã được các địa phương tổ chức triển khai và thu được những chuyển biến nhất định.

2. Một số vấn đề đặt ra

Bên cạnh kết quả đạt được thì qua quá trình triển khai thực hiện Đề án cũng đang đặt ra những vấn đề tồn tại, thể hiện trên 3 khía cạnh cơ bản, đó là:

Thiếu sự tập trung, thống nhất, thường xuyên, liên tục trong chỉ đạo, đánh giá quá trình tổ chức triển khai thực hiện của cấp tỉnh, thành phố đối với từng cơ quan chuyên môn theo kế hoạch đề ra, dẫn tới nhiều hoạt động triển khai chậm và hiệu quả chưa cao.

Sự phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn, kể cả giữa cơ quan chuyên môn trung ương và địa phương và trong từng địa phương với nhau còn có những hạn chết trong triển khai từng nhóm hoạt động, dẫn tới một số hoạt động mang lại hiệu quả chưa như mong muốn.

Sự hạn chế trong việc bảo đảm các nguồn lực thực thi của các địa phương (cả về mặt tổ chức, nhân lực và tài chính). Đây là hạn chế lớn nhất, có tính quyết định trực tiếp tới mức độ thành công chung của toàn bộ Đề án.

Các hạn chế và nguyên nhân tồn tại trong thực thi Đề án nêu trên cũng sẽ tiếp tục được các địa phương tập trung phân tích làm rõ trong các báo cáo đánh giá chuyên đề theo từng nhóm nội dung tại Hội nghị, để trên cơ sở đó có căn cứ đề ra các giải pháp phù hợp cho giai đoạn tiếp theo.

V. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Trong thời gian tới dự báo sẽ tiếp tục có những diễn biến phức tạp về quan hệ lao động, đồng thời đây cũng là giai đoạn phải tập trung thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng như triển khai thực hiện kế hoạch 05 năm về phát triển kinh tế – xã hội theo tinh thần Đại hội XII của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011-2020 và đặc biệt tiếp tục tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng, với nhiều  hiệp định phải thực thi như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU…, trong đó có các ràng buộc rất cao về mức độ tuân thủ các tiêu chuẩn quốc về lao động và quan hệ lao động… Vì vậy, để có thêm căn cứ hỗ trợ tích cực cho các quá trình trên và đặc biệt là để triển khai có hiệu quả Chỉ thị số 22-CT/TW, Kết luận số 96-KL/TW của Ban Bí thư, Nghị quyết số 97/NQ-CP ngày 26/12/2014 của Chính phủ cũng như tiếp tục triển khai có hiệu quả các nội dung cụ thể đã được nêu ra trong Đề án, Hội nghị cần tập trung làm rõ những vấn đề chính như sau:

  1. Tập trung thảo luận, đánh giá cụ thể về các hoạt động đã được từng địa phương triển khai theo 5 nhóm giải pháp lớn nêu ra trong các Đề án, chỉ rõ những mặt đạt được, mặt hạn chế và nguyên nhân tồn tại, trên cơ sở đó giữa các địa phương có thể học hỏi kinh nghiệm trong triển khai và có được những đánh giá tổng thể, đầy đủ quá trình thực hiện chung của các địa phương.
  2. Từ kết quả đánh giá và điều kiện thực tế, đề nghị tập trung thảo luận về dự kiến các nội dung Đề án cần tập trung triển khai trong giai đoạn 2016-2020, trong đó tập trung làm rõ những vấn đề trọng tâm, cách thức tổ chức triển khai và các nguồn lực bảo đảm.
  3. Đối với các địa phương chưa có Đề án, đề nghị cũng có sự chia sẻ các kinh nghiệm hay về các hoạt động phát triển quan hệ lao động cụ thể đã triển khai tại địa phương, đồng thời xem xét, trao đổi về khả năng triển khai xây dựng và thực hiện Đề án trên địa bàn.

Trên cơ sở kết quả Hội nghị này, Trung tâm Hỗ trợ phát triển Quan hệ lao động sẽ tham mưu cho Bộ để có những chỉ đạo, phối hợp kịp thời, tạo thuận lợi cho các tỉnh, thành phố triển khai có hiệu quả các nội dung Đề án trong giai đoạn từ 2016 đến 2020.

Về mặt chuyên môn, Trung tâm Hỗ trợ phát triển Quan hệ lao động cam kết sẽ tiếp tục phối hợp, hỗ trợ tích cực đối với các tỉnh, thành phố (kể các tỉnh, thành phố chưa có Đề án) trong việc tổ chức xây dựng, triển khai các hoạt động của Đề án và các hoạt động phát triển quan hệ lao động khác của từng địa phương khi có yêu cầu./.”

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *