Thiết chế trọng tài trong quan hệ lao động

Quan hệ lao động là quan hệ giữa hai chủ thể có xung đột hoặc khác biệt về lợi ích nên rất dễ xảy ra tranh chấp. Khi xảy ra tranh chấp, nếu hai bên không tự giải quyết được thông qua tự hòa giải hoặc hòa giải với sự tham gia của bên thứ ba thì vụ việc sẽ được đưa ra cơ quan trọng tài lao động.

Cơ quan trọng tài lao động ở các nước phần lớn đều là cơ quan có chức năng bán tư pháp. Đây là chức năng rất đặc biệt của cơ quan trọng tài lao động trong hệ thống các thiết chế về quan hệ lao động.

Tại sao cơ quan trọng tài lao động lại là cơ quan bán tư pháp? Bởi vì tranh chấp lao động có hai loại là tranh chấp lao động về lợi ích và tranh chấp lao động về quyền. Đối với tranh chấp về lợi ích thì vai trò của cơ quan trọng tài cũng tương tự như đối với các quan hệ dân sự khác. Nhưng đối với tranh chấp về quyền thì ở đây có sự khác biệt về vai trò của cơ quan trọng tài đối với quan hệ lao động và các quan hệ dân sự khác. Đối với các quan hệ dân sự khác, khi nói tới “quyền” là nói tới những quyền dân sự mà luật pháp quy định. Mà luật thì do Quốc hội (cơ quan lập pháp) ban hành nên việc phán xử phải do tòa án (cơ quan tư pháp) thực hiện. Còn “quyền” ở trong quan hệ lao động bao gồm không chỉ những quyền do pháp luật quy định, mà còn cả những điều được quy định trong thỏa ước lao động tập thể. Mà thỏa ước lao động tập thể là kết quả (sản phẩm) do hai bên trong quan hệ lao động tự đưa ra, chứ không phải cơ quan lập pháp thông qua như luật. Nếu dùng hệ thống tòa án (tư pháp) để phân xử loại quyền này thì nó không hợp lý. Nhưng nếu dùng cơ quan quản lý nhà nước (hành pháp) để phân xử cũng không hợp lý. Bởi vậy, mới sinh ra chức năng rất đặc biệt của cơ quan trọng tài lao động là chức năng bán tư pháp. Chỉ như vậy thì công tác phân xử tranh chấp lao động về quyền mới nhanh, sát thực tế và giảm tải cho hệ thống tòa án.

Nói như vậy không có nghĩa là hệ thống tòa án lao động không hoạt động. Vì hệ thống trọng tài chỉ có chức năng bán tư pháp nên theo trình tự thủ tục thì nếu một hoặc cả hai bên tranh chấp không đồng ý với quyết định của trọng tài thì đều có quyền đưa vụ việc lên tòa án và vụ việc sẽ được thụ lý theo trình tự thủ tục tố tụng tư pháp. Nhưng kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy rất ít khi tòa án thay đổi quyết định của trọng tài lao động nên trong thực tế, trọng tài lao động mới là cơ quan thực sự thụ lý các trường hợp tranh chấp lao động. Ở nhiều nước, có rất ít vụ việc tranh chấp lao động được đưa lên toà quan hệ lao động, mà thường chỉ dừng lại ở cơ quan hòa giải lao động hoặc trọng tài lao động.

Ngoài ra cũng cần nói thêm là theo trình tự thủ tục mang tính phổ biến thì cơ quan trọng tài lao động thường bắt đầu quá trình xem xét vụ việc bằng hoạt động hòa giải. Về bản chất sự việc thì nếu hai bên tự đưa ra “luật con” này thì hai bên cũng có quyền tự sửa “luật” này để mà hòa giải. Như vậy có thể thấy hòa giải là hoạt động xuyên suốt trong quá trình quan hệ lao động: từ tự hòa giải, đến hòa giải với sự tham gia của cơ quan trung gian hòa giải, tiếp đến hòa giải của cơ quan trọng tài (và tiếp nối sẽ là hòa giải của cơ quan tòa án trước khi bước vào quá trình phán xử). Tuy nhiên, mỗi nấc hòa giải lại có những đặc điểm hơi khác nhau và cách can thiệp (tác động) từ bên ngoài cũng khác nhau. Nội dung hòa giải trong luật pháp về quan hệ lao động cũng được quy định trong các bước tương ứng.

Nói tóm lại, cơ quan trọng tài lao động là một thiết chế quan trọng trong quan hệ lao động, thường có chức năng bán tư pháp. Quá trình phân xử thường bắt đầu từ hoạt động hòa giải. Các thành viên của cơ quan trọng tài lao động thường do ba bên cử ra (mang tính chất ba bên).

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *