Tạo dựng những điều kiện cần thiết cho việc tiến hành thương lượng lao động tập thể thực chất

Có thể nêu lên 6 điều kiện cần thiết để có thể tiến hành thương lượng và ký thỏa ước lao động tập thể thực chất gồm:

  • Điều kiện thứ nhất:hai bên, nhất là bên đại diện cho tập thể người lao động phải có đủ tư cách đại diện. Đây là điều kiện quan trọng nhất vì nếu người đứng ra thương lượng mà không có đủ tư cách đại diện cho tập thể người lao động thì mọi điều khoản đưa vào trong thỏa ước sẽ trở nên vô nghĩa, không có giá trị đối với người lao động vì người lao động sẽ không làm theo những gì mà người không đại diện cho mình đã đứng ra cam kết. Đây là điều hết sức lưu ý để thấy sự khác biệt giữa “” và “có thật” đối với tổ chức đại diện cho người lao động là một sự khác biệt rất lớn. Đây có thể coi là điều kiện tiền đề để tiến hành hoạt động đối thoại, thương lượng và thỏa ước, hay gọi theo ngôn ngữ toán học thì gọi là “điều kiện cần”, trước khi nói tiếp đến các “điều kiện đủ” ở phần sau.
  • Điều kiện thứ hai: hai bên phải có mong muốn (thiện chí) thương lượng. Nếu một trong hai bên không có mong muốn hoặc thiện chí thương lượng thì thương lượng thật sẽ rất khó xảy ra, mà nếu xảy ra thì cũng chỉ là hình thức, không dẫn đến kết quả. Về bản chất thì thương lượng và ký thỏa ước là việc tự nguyện, cũng như việc một người đi mua hàng có mặc cả hay không là quyền của người đó. Trong thực tế thì rất hay xảy ra việc người lao động thì muốn, còn người sử dụng lao động thì có thể không muốn thương lượng, mặc dù luật đã quy định là khi một bên yêu cầu thì bên kia phải ngồi vào thương lượng. Nhưng ngồi vào mà trong lòng không muốn thì kết quả sẽ rất khó đạt được. Bởi vậy, thuật ngữ quan hệ lao động có một từ riêng là “thương lượng một cách thiện chí” (negotiation in good faith). Luật quan hệ lao động nhiều nước cũng quy định điều này và trong Bộ luật Lao động của Việt Nam sửa đổi năm 2012, điều 67 đã bổ sung quy định về nguyên tắc “thiện chí” trong thương lượng lao động tập thể. Ngoài quy định của luật pháp thì những áp lực của xã hội, của tập thể người lao động, của Chính phủ hay của cộng đồng doanh nghiệp đóng góp đáng kể cho việc hình thành ý thức thương lượng của cả hai phía.
  • Điều kiện thứ ba:hai bên phải có vị thế thương lượng bình đẳng, độc lập với nhau.Thương lượng sẽ không thể có kết quả thực sự nếu một trong hai bên không có vi thế thương lượng. Nếu một cuộc thương lượng được tiến hành như vậy thì kết quả sẽ là sự áp đặt chứ khó có thể nói đó là kết quả của sự thỏa thuận. Bộ luật Lao động và Luật Công đoàn sửa đổi lần này đã bổ sung một số quy định mới về sự hỗ trợ của công đoàn cấp trên đối với công đoàn cơ sở trong quá trình thương lượng tập thể chính là làm tăng thêm sự tự tin, ý thức bình đẳng và độc lập của đại diện tập thể người lao động trong quá trình thương lượng.
  • Điều kiện thứ tư: hai bên phải có đủ năng lực, đủ kỹ năng để thương lượng. Khi đã ngồi vào bàn thương lượng, hai bên phải có đủ năng lực và kỹ năng để thực hiện chức năng của mình, bao gồm việc xây dựng phương án đàm phán, kỹ năng tiến – lùi, gây sức ép hay mềm mỏng, linh hoạt trong đàm phán,..để đạt mục tiêu đề ra. Những hoạt động tập huấn kỹ năng thương lượng, đàm phán cho các bên trong quan hệ lao động là để hỗ trợ cho việc này. Ngoài ra, sự hỗ trợ trực tiếp của công đoàn ngoài doanh nghiệp (và của hiệp hội doanh nghiệp) là cần thiết để bổ sung cho sự thiếu hụt về năng lực cho hai bên trong thương lượng. Điều 72 của Bộ luật Lao động mới sửa đổi đã quy định rõ sự hỗ trợ này.
  • Điều kiện thứ nămhai bên phải có đủ năng lực và vị thế để đạt được sự đồng thuận nội khối và kiểm soát việc thực hiện thỏa thuận. Đây là một điều kiện quan trọng. Nếu bên đứng ra thương lượng không có đủ năng lực để kiểm soát những cam kết của mình thì khi đó việc thương lượng là vô nghĩa. Ví dụ đại diện tập thể người lao động (công đoàn cơ sở) đạt được thỏa thuận với người sử dụng lao động về một điều khoản nào đó, nhưng sau đó tập thể người lao động lại tự phát tổ chức đình công về chính nội dung đó thì việc đàm phán cũng như ký thỏa ước trở nên mất ý nghĩa. Đây là một trong những thách thức rất lớn hiện nay đối với tổ chức công đoàn cơ sở.
  • Điều kiện thứ sáu:hai bên có thể có được sự hỗ trợ từ bên thứ ba cho quá trình thương lựơng nếu có yêu cầu. Đây nên hiểu chỉ là điều kiện bổ sung, nhưng là một bổ sung cần thiết vì thương lượng giữa hai bên tại doanh nghiệp nhiều trường hợp trở thành thương lượng giữa hai bên có quyền lợi xung đột nhau. Trong trường hợp đó, sự tham gia của bên thứ ba với tư cách trung gian hòa giải sẽ giúp hai bên thu hẹp khoảng cách khác biệt để đạt được thỏa thuận. Đây là hoạt động được sử dụng khá phổ biến ở các nước có quan hệ lao động phát triển (hoạt động trung gian hòa giải). Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2012 đã bổ sung một số quy định về cơ chế hỗ trợ này.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *