NLĐ tự ý nghỉ việc có thể coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật hay không?

Công ty Cổ phần Thương mại Thành Đạt có 5.000 lao động. Hàng tháng, Công ty có khoảng 20 lao động tự ý nghỉ việc không có lý do và không quay trở lại Công ty. Công ty cũng đã liên lạc với người lao động nhưng không liên lạc được. Vậy trong trường hợp này Công ty có được ban hành Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động do người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật được không? Công ty có thể tự ra quyết định xử lý kỷ luật sa thải được không?

Trả lời

1. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 126 Bộ luật Lao động năm 2012 thì hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong những trường hợp người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng. Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 30 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 12 Điều 1 Nghị định số 148/2018/NĐ-CP ngày 24/10/2018 của Chính phủ thì trường hợp người sử dụng lao động phát hiện hành vi vi phạm kỷ luật lao động sau thời điểm hành vi vi phạm đã xảy ra, có đủ căn cứ chứng minh được lỗi của người lao động và trong thời hiệu xử lý kỷ luật thì thực hiện như sau:

– Người sử dụng lao động thông báo nội dung, thời gian, địa điểm cuộc họp xử lý kỷ luật lao động đến thành phần tham dự quy định tại điểm b, c Khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Lao động năm 2012, đảm bảo các thành phần này nhận được thông báo trước khi diễn ra cuộc họp và tiến hành cuộc họp xử lý kỷ luật lao động khi có sự tham gia của các thành phần thông báo.

– Khi nhận được thông báo của người sử dụng lao động, trong thời hạn tối đa 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, thành phần tham dự quy định tại điểm b, c Khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Lao động năm 2012 phải xác nhận tham dự cuộc họp. Trường hợp không tham dự phải thông báo cho người sử dụng lao động và nêu rõ lý do. Trường hợp một trong các thành phần quy định tại điểm b, c Khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Lao động năm 2012 không xác nhận tham dự cuộc họp, hoặc nêu lý do không chính đáng, hoặc đã xác nhận tham dự nhưng không đến họp thì người sử dụng lao động vẫn tiến hành xử lý kỷ luật lao động.

Theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Lao động năm 2012 và Điều 30 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 12 Điều 1 Nghị định số 148/2018/NĐ-CP ngày 24/10/2018 của Chính phủ, trường hợp người sử dụng lao động phát hiện hành vi vi phạm kỷ luật lao động sau thời điểm hành vi vi phạm đã xảy ra, có đủ căn cứ chứng minh được lỗi của người lao động và trong thời hiệu xử lý kỷ luật thì người sử dụng lao động phải tổ chức cuộc họp xử lý kỷ luật lao động.

Căn cứ vào quy định nêu trên, Công ty Cổ phần Thương mại Thành Đạt thực hiện xử lý kỷ luật lao động người lao động vi phạm theo đúng quy định pháp luật.

2. Theo quy định tại Điều 41 Bộ luật Lao động năm 2012 thì các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các Điều 37, 38 và 39 của Bộ luật Lao động năm 2012.

Theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Lao động năm 2012 thì khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động phải báo trước cho người sử dụng lao động biết trước, thời hạn báo trước căn cứ vào lý do và loại hợp đồng lao động mà người lao động đã ký kết với người sử dụng lao động.

Như vậy, để xác định trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật của người lao động thì Công ty Cổ phần Thương mại Thành Đạt phải căn cứ quy định nêu trên và loại hợp đồng lao động đã ký kết với người lao động.

Cục QHLĐ&TL

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *