Những điểm chính của Chương 19–Nội dung lao động trong TPP

CIRD – Ngày 5 tháng 10 năm 2015, tại Atlanta, Hoa Kỳ, 12 quốc gia thành viên tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) tuyên bố kết thúc đàm phán. Một tháng sau, ngày 05/11/2015, bản dự thảo Hiệp định TPP (tiếng Anh) được công bố và tới ngày 04/2/2016, Việt Nam chính thức ký kết TPP. Hiệp định TPP gồm 30 chương, 516 điều. Hiệp định xác lập các tiêu chuẩn cao, cam kết mở cửa trên 20 lĩnh vực khác nhau với phạm vi và mức độ cam kết sâu hơn, rộng hơn so với bất kỳ Hiệp định thương mại tự do (FTA) nào đã tồn tại trước đó. Ngoài cam kết về tự do hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ như các FTA thế hệ trước, Hiệp định TPP yêu cầu các nước cam kết trên nhiều lĩnh vực mới như mua sắm chính phủ, lao động, môi trường, đầu tư, doanh nghiệp nhà nước … Bên cạnh đó, Hiệp định còn có các quy định chung, xuyên suốt nhằm bảo đảm thực thi Hiệp định như giải quyết tranh chấp, các ngoại lệ và các điều khoản về thể chế… Trong tổng số 14 FTA mà Việt Nam tham gia, TPP là hiệp định đầu tiên có chương riêng về lao động, trong đó chủ yếu là các nội dung về quan hệ lao động.

Việc tìm hiểu các cam kết về lao động trong TPP nhằm lường trước những tác động và điều chỉnh kịp thời, đảm bảo thực hiện tốt việc thực hiện các nhiệm vụ của mỗi cơ quan, tổ chức là hết sức cần thiết.

Nội dung lao động trong các FTA thế hệ mới

Cùng với quá trình toàn cầu hóa, nội dung và phạm vi của các FTA ngày càng được mở rộng. Nếu như trong giai đoạn đầu, các FTA chủ yếu quy định về giảm thiểu hàng rào thương mại truyền thống: thuế quan, quota, hải quan thì dần dần FTA mở rộng ra các quy định phi truyền thống như sở hữu trí tuệ, đầu tư. Các FTA thế hệ mới tiếp tục mở rộng phạm vi điều chỉnh đến những vấn đề không liên quan trực tiếp đến thương mại truyền thống như lao động và môi trường.

Việc đưa các nội dung về lao động vào trong các FTA xuất phát từ quan điểm cho rằng chi phí lao động luôn chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí sản xuất. Việc bình đẳng trong lao động là điều kiện để đảm bảo sự bình đẳng trọng cạnh tranh và duy trì đạo đức trong thương mại quốc tế. Dù ở mỗi quốc gia có mức thu nhập và điều kiện sống khác nhau nhưng những nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động cần phải được đảm bảo như một chuẩn mực của sự công bằng và cạnh tranh bình đẳng.

Nội dung cam kết lao động trong TPP

Chương 19 của Hiệp định TPP quy định về lao động, gồm 15 điều. Trong đó, tập trung vào các nội dung cơ bản sau:

Cam kết chung về quyền lao động:

Các quốc gia thành viên TPP khẳng định cam kết thực thi đầy đủ nghĩa vụ với tư cách là một quốc gia thành viên của ILO, cụ thể là các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động được nêu trong Tuyên bố năm 1998 của ILO; không sử dụng các tiêu chuẩn về lao động nhằm mục đích bảo hộ thương mại.

Các quốc gia thành viên cam kết thông qua và duy trì (adopt and maintain) trong hệ thống pháp luật của mình cũng như trong thực tiễn các quyền được khẳng định trong Tuyên bố năm 1998 của ILO, gồm:

– Tự do hiệp hội và thực hiện có hiệu quả quyền thương lượng tập thể;

– Xóa bỏ mọi hình thức lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc;

– Xóa bỏ có hiệu quả lao động trẻ em; và nghiêm cấm các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất;

– Xóa bỏ phân biệt đối xử trong công việc.

Các quốc gia thành viên có nghĩa vụ bảo đảm trong pháp luật và thực tiễn quy định về điều kiện làm việc có thể chấp nhận được về tiền lương tối thiểu, thời giờ làm việc và an toàn vệ sinh lao động.

Đầu mối liên lạc:

Mỗi bên sẽ chỉ định một Đầu mối liên lạc trong bộ lao động hoặc cơ quan tương đương để giải quyết các vấn đề có liên quan đến nội dung lao động trong TPP và để nhận, thụ lý và trả lời đơn thư của công chúng từ tất cả các quốc gia trong TPP.

Hội đồng lao động:

Các bên sẽ thành lập một Hội đồng lao động bao gồm các đại diện chính phủ theo chỉ định. Hội đồng họp trong vòng 1 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực. Sau đó Hội đồng sẽ họp hai năm một lần.

Hợp tác giữa các bên:

Hiệp định xác định 7 nguyên tắc và 20 lĩnh vực hợp tác trong lao động (từ vấn đề giải quyết việc làm, tiền lương… đến xây dựng, hoàn thiện và thực thi pháp luật, đối thoại xã hội và trách nhiệm xã hội…). Hiệp định đề cập rõ 4 hình thức hợp tác (hội nghị, hội thảo, đối thoại; tham quan để nghiên cứu, học tập; hợp tác nghiên cứu; trao đổi chuyên gia…).

Đối thoại:

Một bên có thể yêu cầu đối thoại với một bên khác về bất cứ vấn đề gì phát sinh vào bất cứ thời điểm nào bằng cách gửi một yêu cầu đến đầu mối liên lạc mà bên kia đã chỉ định.

Sự tham gia của công chúng:

Hiệp định nhấn mạnh sự tham gia của công chúng vào quá trình xây dựng và thực hiện các cơ chế cụ thể nhằm đảm bảo nội dung lao động trong Hiệp định..

Tham vấn lao động:

Hiệp định thúc đẩy tham vấn lao động, chia sẻ thông tin giữa các quốc gia thành viên trong giải quyết các vụ việc về lao động trước khi áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp theo quy định chung tại Chương 28 (Giải quyết tranh chấp) của Hiệp định. Theo đó, việc vi phạm các cam kết về lao động có thể dẫn đến việc bị áp dụng chế tài thương mại.

Các cam kết mạnh mẽ về lao động trong TPP sẽ làm tăng chi phí về nhân công và có tác động mạnh đến khả năng cạnh tranh của các nước đang phát triển. Việt Nam là nước kém phát triển nhất trong TPP, là nước xuất khẩu dựa vào hàng hóa thâm dụng lao động cao với lợi thế về nhân công giá rẻ. Do đó, trong ngắn hạn, việc chấp nhận và thực hiện tiêu chuẩn lao động trong Hiệp định TPP có thể dẫn tới tác động đến lợi thế nhân công giá rẻ của Việt Nam. Tuy nhiên, trong dài hạn việc thực hiện các tiêu chuẩn này sẽ tác động tích cực đến quan hệ lao động, năng suất lao động, môi trường đầu tư cũng như năng lực cạnh tranh của nền kinh tế./.

Tuyên bố năm 1998 của ILO 

Sau khi Hội nghị Bộ trưởng WTO tại Singapore khẳng định về vai trò của mình, ngày 18/6/1998, ILO thông qua Tuyên bố về các Nguyên tắc và Quyền Cơ bản trong Lao động (Declaration on Fundamental Principles and Rights at Work – Tuyên bố năm 1998 của ILO). Quan điểm của ILO về các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động nhanh chóng được thừa nhận và khẳng định bởi Liên Hợp quốc cũng như các tổ chức quốc tế như: Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (the World Bank), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).

Sau khi ILO thông qua Tuyên bố năm 1998, số FTA viện dẫn đến tuyên bố này tăng lên nhanh chóng. Nếu như đến năm 1995, không có FTA nào viện dẫn đến các tiêu chuẩn lao động của ILO thì năm 2010 có khoảng 25% và năm 2013 là khoảng 70% các FTA có điều khoản lao động viện dẫn đến Tuyên bố năm 1998 của ILO. Đặc biệt, các FTA với các điều khoản mạnh về lao động mà Hoa Kỳ là thành viên như US-Colombia, US – Peru; US-Panama; US-Hàn Quốc đều viện dẫn cụ thể đến Tuyên bố năm 1998 của ILO.

Tuyên bố năm 1998 của ILO yêu cầu các quốc gia thành viên tôn trọng, ghi nhận và bảo đảm các nguyên tắc và quyền nêu trong 8 Công ước cơ bản (29, 87, 98,100,105,111,138 và 182) với tư cách là thành viên ILO ngay cả khi quốc gia thành viên đó chưa phê chuẩn các Công ước này./.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *