Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi): Phù hợp hơn với các nguyên tắc kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

Tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội Khóa XIV sẽ xem xét, thảo luận và thông qua Bộ luật Lao động 2012 (sửa đổi). Kể từ khi được ban hành lần đầu năm 1994, Bộ luật Lao động (BLLĐ) đã được sửa đổi, bổ sung 4 lần vào các năm 2002, 2006, 2007 và 2012 và đây là lần sửa đổi, bổ sung cơ bản, toàn diện, góp phần đưa hệ thống pháp luật lao động của Việt Nam phù hợp hơn với các nguyên tắc của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thích ứng với những phát triển mới rất nhanh chóng của thị trường lao động do tác động của khoa học công nghệ; đưa pháp luật lao động của Việt Nam phù hợp hơn với các tiêu chuẩn lao động quốc tế, phục vụ quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi): Phù hợp hơn với các nguyên tắc kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế - Ảnh 1.

Ngày 20/9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nghe báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi)

Câu hỏi đầu tiên, đâu là lý do sửa đổi BLLĐ lần này?

Thông thường khi đề xuất sửa đổi luật pháp, thì lý do đầu tiên là bởi những quy định của luật hiện hành có những bất cập không còn phù hợp. Đề xuất sửa đổi BLLĐ lần này cũng vậy. Tổng kết 6 năm thi hành BLLĐ, nhiều doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, người lao động và công đoàn đã phản ánh nhiều vướng mắc, bất cập khi áp dụng các điều luật của BLLĐ năm 2012 về một số nội dung như: hợp đồng lao động, tiền lương, thời giờ làm việc, kỷ luật lao động, lao động nữ, lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, đối thoại tại nơi làm việc, công đoàn, thương lượng tập thể, giải quyết tranh chấp lao động và đình công, v.v… và cần được sửa đổi, bổ sung.

Lý do thứ hai là, BLLĐ ban hành năm 2012, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam ban hành năm 2013. Nhằm thể chế hóa Hiến pháp 2013,Quốc hội đã ban hành nhiều luật mới, dẫn đến những thay đổi hoặc phát sinh những vấn đề mới liên quan tới nội dung, kết cấu của BLLĐ, vì vậy cần sửa đổi BLLĐ theo tinh thần Hiến pháp 2013 về “quyền con người trong trong lĩnh vực lao động, quan hệ lao động và thị trường lao động và đảm bảo tính thống nhất, sự phù hợp của hệ thống pháp luật”.

Và tất nhiên, lý do thứ ba là khi Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu và rộng hơn, việc gia nhập các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với các cam kết về lao động ở mức độ cao hơn, thì cũng cần sửa đổi BLLĐ cho phù hợp với các cam kết này. Cam kết về lao động trong các Hiệp định này yêu cầu các quốc gia thành viên có nghĩa vụ tuân thủ thực hiện các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động của NLĐ theo Tuyên bố năm 1998 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).Sửa đổi BLLĐ nhằm đảm bảo các quy định trong pháp luật lao động của Việt Nam thực sự tương thíchvới các cam kết quốc tế nêu trên.

Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi): Phù hợp hơn với các nguyên tắc kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế - Ảnh 2.
Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi): Phù hợp hơn với các nguyên tắc kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế - Ảnh 3.

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung trực tiếp lắng nghe ý kiến của công nhân ngành may về sửa đổi Bộ luật Lao động

Những mục tiêu chính của dự thảo BLLĐ (sửa đổi) lần này là gì?

Với các lý do trên thì việc sửa đổi BLLĐ lần này nhằm mục tiêu góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, thúc đẩy thị trường lao động phát triển; giải quyết căn bản các vướng mắc, bất cập từ thực tiễn thi hành và tạo khung pháp lý thông thoáng, linh hoạt hơn về tuyển dụng, sử dụng lao động, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế. Tất nhiên, việc sửa đổi BLLĐ cần bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của người lao động (NLĐ) và người sử dụng lao động (NSDLĐ); đảm bảo hài hòa lợi ích của NLĐ và NSDLĐ, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam hiện nay, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ.

Yêu cầu của sửa đổi BLLĐ lần này là phải thể chế hóa được các quy định của Hiến pháp năm 2013 về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong lĩnh vực lao động. bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật và tất nhiên đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

Mức độ sửa đổi BLLĐ so với BLLĐ hiện hành

Có thể nói sửa đổi BLLĐ lần này là lần sửa đổi căn bản, toàn diện, không chỉ liên quan trực tiếp đến các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong lĩnh vực lao động mà còn khẳng định Việt Nam là thành viên có trách nhiệm với các cam kết của mình trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cũng như với tư cách là một thành viên của Tổ chức Lao động Quốc tế.

Dự thảo BLLĐ (sửa đổi) được chỉnh lý sau khi tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ 7, bao gồm 17 chương, 220 điều, sửa đổi, bổ sung một số điều của 3 luật liên quan là: Bộ luật tố tụng Dân sự, Luật thi hành án Dân sự và Luật Bảo hiểm xã hội. Nhiều nội dung rất mới đã được sửa đổi, bổ sung trong dự thảo Bộ luật.

Đối tượng điều chỉnh BLLĐ sửa đổi: mở rộng đến các nhóm đối tượng không có quan hệ lao động

BLLĐ hiện hành chỉ áp dụng đối với NLĐ làm việc trên cơ sở có quan hệ lao động. Nhóm có quan hệ lao động chỉ chiếm khoảng 1/3 lực lượng lao động của cả nước. Như vậy, nếu giữa nguyên đối tượng điều chỉnh như quy định của BLLĐ hiện hành thì hơn 30 triệu lao động không thuộc đối tượng điều chỉnh của luật- nói cách khác, độ bao phủ của Bộ luật hiện hành là hạn chế.

Có thể phân loại các quy định trong BLLĐ thành về hai nhóm: Nhóm các quy định về tiêu chuẩn và điều kiện lao động và Nhóm các quy định về quan hệ lao động. Những quy định về quan hệ lao động có thể khó áp dụng cho những người không có quan hệ lao động, nhưng những quy định về tiêu chuẩn và điều kiện lao động cần được áp dụng cho càng nhiều càng tốt những người lao động không có quan hệ lao động.Người không có quan hệ lao động có thể áp dụng những quy định này trong thực tiễn làm việc của mình.

Chẳng hạn, người lao động nhận khoán một công việc cần thực hiện, ví dụ trong 42 giờ. Họ có thể áp dụng mức tiền lương tối thiểu theo giờ như là mức khởi điểm để đàm phán tiền công trả cho mình. Nếu người thuê yêu cầu phải hoàn thành trong 4 ngày, họ có thể áp dụng quy định về ngày làm việc không quá 8 giờ để đàm phán về tiền làm thêm giờ, trong trường hợp này là 12 giờ, cần được nhận mức tiền công cao hơn. Nếu công việc đòi hỏi phải có trang thiết bị bảo hộ lao động, thì họ có quyền yêu cầu người sử dụng lao động cung cấp.

Như vậy, dự thảo Bộ luật đã mở rộng phạm vi điều chỉnh, theo đó, người không có quan hệ lao động được áp dụng các quy định phù hợp của BLLĐ. Đồng thời, để mở rộng diện bao phủ và nâng cao khả năng nhận diện NLĐ làm việc theo hợp đồng lao động, dự thảo bổ sung quy định, trường hợp các bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về công việc phải làm, có trả công và sự quản lý điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động. Quy định này là cần thiết để đảm bảo việc kiểm soát việc lách các quy định của luật, dùng tên gọi khác để né tránh trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ của NSDLĐ như quy định về tiền lương, trách nhiệm tham gia BHXH cho người lao động.

Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi): Phù hợp hơn với các nguyên tắc kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế - Ảnh 4.

Sửa đổi BLLĐ để phù hợp với các nguyên tắc của kinh tế thị trường và thể hiện trách nhiệm của Việt Nam đối với các cam kết quốc tế về lao động (ảnh minh họa)

Sửa đổi BLLĐ để phù hợp với các nguyên tắc của kinh tế thị trường và thể hiện trách nhiệm của Việt Nam đối với các cam kết quốc tế về lao động

Nguyên tắc của thị trường là thương lượng và thỏa thuận giữa NLĐ, NSDLĐ cũng như tổ chức của họ, tránh sự can thiệp hành chính của cơ quan quản lý nhà nước. Nguyên tắc của thị trường là đảm bảo sự linh hoạt, tăng cường sự tự chủ, trao quyền cho các bên trong quan hệ lao động là NLĐ, NSDLĐ và các tổ chức của họ. Tất nhiên, Nhà nước cũng có những can thiệp cần thiết để bảo vệ những người lao động yếu thế- như quy định về tiền lương tối thiểu; nhưng Nhà nước không can thiệp vào mức tiền lương thương lượng- là kết quả đạt được sau khi thương lượng giữa NLĐ và NSDLĐ.

Để đảm bảo các nguyên tắc này vận hành trên thực tiễn, cần có các quy định thúc đẩy cơ chế đối thoại, thương lượng của các bên. Dự thảo BLLĐ lần này đã thể hiện được các nguyên tắc này, trao quyền tự chủ, tôn trọng nguyên tắc thương lượng và thỏa thuận về hợp đồng lao động, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp phù hợp, thỏa thuận thử việc, xây dựng thang lương, bảng lương, định mức lao động,…

Phù hợp với các cam kết về lao động, dự thảo BLLĐ sửa đổi đưa ra các quy định về tổ chức đại diện NLĐ; sửa đổi, bổ sung các quy định về đối thoại, thương lượng tập thể, ký kết thỏa ước lao động tập thể, giải quyết tranh chấp lao động trong bối cảnh có thể có nhiều tổ chức đại diện NLĐ trong một doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu nội luật hóa các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản về quyền tự do hiệp hội và thương lượng tập thể, thực hiện các cam kết về lao động trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam đã và tiếp tục tham gia.

Dự thảo bổ sung, hoàn thiện thêm các quy định nhằm đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử trong lao động theo tinh thần của các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như: Công ước CEDAW của Liên hợp quốc và Công ước số 100, 111 của ILO. Một số nội dung sửa đổi cụ thể bao gồm những sửa đổi, bổ sung về lao động nữ, lao động là người khuyết tật, bảo đảm bình đẳng giới, phòng chống quấy rối tình dục, tuổi nghỉ hưu,…

Điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu chung: Không phải ngay lập tức mà có lộ trình; không lo vỡ Quỹ BHXH mà nhằm thích ứng quá trình già hóa dân số và nguy cơ thiếu hụt lao động trong tương lai

Câu chuyện nâng tuổi nghỉ hưu là câu chuyện được bàn luận rất nhiều và cũng nhận ý kiến rất trái chiều trong công luận. Thực ra, chuyện nâng tuổi nghỉ hưu là chuyện của tất cả các nước để thích ứng với quá trình già hóa dân số và nguy cơ thiếu hụt lao động trong tương lai. Ban soạn thảo Dự án BLLĐ sửa đổi đã nghiên cứu kỹ lưỡng và thấy có nhiều lý do cần điều chỉnh tăng dần tuổi nghỉ hưu.

Đầu tiên, cần phải thấy rằng nâng tuổi nghỉ hưu là cần thiết, là vì lợi ích quốc gia chứ không phải vì lý do lo ngại vỡ Quỹ BHXH. Các lý do có thể kể ra là Việt Nam đã bước vào giai đoạn già hóa dân số và tốc độ già hóa dân số được dự báo diễn ra rất nhanh. Hai là, Việt Nam sẽ phải đối mặt với vấn đề thiếu hụt lao động nếu không mở rộng độ tuổi lao động thông qua việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu.Ba là, mặc dù quy định tuổi nghỉ hưu là 60 với nam, 55 với nữ nhưng sau độ tuổi này, có tới 70-72% nam giới tuổi 60-65 và nữ giới tuổi 55-60 vẫn còn tiếp tục tham gia lực lượng lao động, và điều chỉnh tuổi nghỉ hưu là một trong những biện pháp thừa nhận và đảm bảo quyền được làm việc của người dân; Bốn là, thu hẹp khoảng cách về tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ là biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trên thị trường lao động, đảm bảo nguyên tắc không phân biệt đối xử theo Công ước của Liên hợp quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) mà Việt Nam đã cam kết từ năm 1982; Năm là, sau tuổi 55 của nữ và 60 tuổi của nam, người lao động vẫn có thể làm việc khi số năm khỏe mạnh sau tuổi 60 của Việt Nam ở mức rất khá theo công bố của Tổ chức Y tế thế giới; và Sáu làmở rộng độ tuổi lao động, tăng tuổi nghỉ hưu là một trong những biện pháp quan trọng góp phần đảm bảo cân đối tài chính quỹ hưu trí và tử tuất trong dài hạn

Trong phương án đề nghị nâng tuổi nghỉ hưu, dự thảo BLLĐ cũng đề xuất nâng theo lộ trình chậm chứ không phải nâng ngay lập tức lên 62 đối với nam và 60 đối với nữ. Thêm vào đó tuổi nghỉ hưu 62 với nam và 60 với nữ là trong điều kiện làm việc bình thường. Quy định như vậy có nghĩa là trong điều kiện không bình thường thì có thể được nghỉ sớm hơn như các NLĐ làm các công việc nặng nhọc, độc hại nguy hiểm hoặc ở nơi có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; có thể nghỉ muộn hơn nếu đó là NLĐ có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Tất nhiên nghỉ hưu muộn hơn chỉ khi NLĐ có đủ sức khỏe, có nguyện vọng và NSDLĐ có nhu cầu sử dụng lao động đó.

Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi): Phù hợp hơn với các nguyên tắc kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế - Ảnh 5.

Sửa đổi BLLĐ để phù hợp với các nguyên tắc của kinh tế thị trường và thể hiện trách nhiệm của Việt Nam đối với các cam kết quốc tế về lao động (ảnh minh họa)

Tổ chức của NLĐ bên cạnh tổ chức Công đoàn: Thể hiện trách nhiệm của Việt Nam đối với các cam kết về lao động

Đây là nội dung mới, được sửa đổi, bổ sung nhằm nội luật hóa tiêu chuẩn lao động quốc tế và thực hiện các cam kết về lao động trong các Hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia. Đây cũng là thể chế hóa quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết số 06-NQ/TW Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Nghị quyết số 27-NQ/TW Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII,.

Dự thảo BLLĐ quy định về ba nội dung lớn: (1) Quyền của NLĐ trong việc thành lập, gia nhập tổ chức đại diện; (2) Điều kiện đối với ban lãnh đạo và người đứng đầu tổ chức; (3) Tôn chỉ, mục đích và điều lệ của tổ chức. Những vấn đề liên quan cần hướng dẫn của ba nội dung trên và một số nội dung cụ thể khác như: hồ sơ, thủ tục đăng ký; thẩm quyền, thủ tục cấp đăng ký, thu hồi đăng ký; quản lý nhà nước đối với vấn đề tài chính, tài sản của tổ chức đại diện; hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể và quyền liên kết của các tổ chức với nhau sẽ giao Chính phủ quy định.

Tổ chức đại diện NLĐ phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chỉ đại diện bảo vệ quyền hợp pháp và lợi ích chính đáng của NLĐ trong phạm vi quan hệ lao động tại cơ sở. Các quy định nội dung, phạm vi hoạt động của tổ chức đại diện là những quy định về việc tham gia của tổ chức này vào quá trình đối thoại, thương lượng tập thể, giải quyết tranh chấp lao động, nhất là hoạt động thương lượng tập thể với NSDLĐ về tiền lương và điều kiện làm việc cho NLĐ.

Nhằm bảo đảm sự ổn định, hài hòa của quan hệ lao động, dự thảo BLLĐ sửa đổi quy định về thương lượng tập thể dựa trên một số nguyên tắc cơ bản như một doanh nghiệp chỉ có một thương lượng tập thể và một thỏa ước lao động được ký kết nhằm bảo đảm thương lượng tập thể được thực hiện theo cách không gây khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường của doanh nghiệp; hai là, thỏa ước lao động tập thể dù được tổ chức đại diện nào thương lượng đều phải được đa số (trên 50%) NLĐ tại doanh nghiệp đồng ý mới được ký kết nhằm đảm bảo NLĐ phải là người có tiếng nói cuối cùng trong việc thông qua thỏa ước lao động tập thể.

Với các nguyên tắc như vậy, dự thảo Bộ luật Lao động quy định trong trường hợp doanh nghiệp có nhiều tổ chức đại diện NLĐ thì chỉ có một tổ chức đại diện có quyền thương lượng tập thể là tổ chức thỏa mãn 2 điều kiện: (i) là tổ chức đại diện lớn nhất của NLĐ tại cơ sở; (ii) phải có số lượng thành viên tối thiểu là NLĐ tại đơn vị sử dụng lao động theo quy định của pháp luật. Trường hợp không có tổ chức nào thỏa mãn các điều kiện trên thì các tổ chức có thể liên kết với nhau trên cơ sở tự nguyện để thương lượng tập thể nếu đảm bảo tỷ lệ tối thiểu.

Tiến sỹ DOÃN MẬU DIỆP – Phó Trưởng Ban soạn thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi)

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *