Chương Thương mại và Phát triển bền vững trong Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU

CIRD trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung Chương Thương mại và Phát triển bền vững trong Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA). Trong Chương này, cam kết về lao động thể hiện tại Điều 3, xem thêm Điều 15, Điều 16 và Điều 17 để thấy cơ chế giám sát thực việc – Dịch bởi thuvienphapluat.vn

THƯƠNG MẠI VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

ĐIỀU 1

Bối cảnh, mục tiêu và phạm vi

1. Hai Bên nhắc lại Chương trình Nghị sự 21 về Môi trường và Phát triển năm 1992, Kế hoạch Johannesburg về thực hiện phát triển bền vững năm 2002, Tuyên bố cấp Bộ của Hội đồng Kinh tế và Xã hội Liên hợp quốc về Toàn dụng nhân công và Việc làm bền vững năm 2006, Nghị sự về việc làm bền vững của ILO, các tài liệu về kết quả của Hội nghị Liên hợp quốc về Phát triển bền vững năm 2012 mang tên “Tương lai chúng ta mong muốn”, và kết quả của Hội nghị thượng đỉnh Liên hợp quốc về Phát triển bền vững năm 2015 mang tựa đề “Thay đổi thế giới của chúng ta: Chương trình Nghị sự năm 2030 về Phát triển bền vững”, và khẳng định lại cam kết của mình để thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế theo hướng nhằm góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững, vì lợi ích của các thế hệ hiện tại và tương lai, và sẽ khuyến khích việc tích hợp các mục tiêu này trong mối quan hệ thương mại của họ.

2. Hai Bên khẳng định lại cam kết của mình để theo đuổi phát triển bền vững, mà các hành động chính, gồm phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường, là phụ thuộc lẫn nhau và củng cố lẫn nhau.

3. Họ nhấn mạnh những lợi ích của hợp tác về các vấn đề lao động1 và môi trường liên quan tới thương mại như là một phần của phương pháp tiếp cận toàn cầu về thương mại và phát triển bền vững. Theo đó, phạm vi của Chương này là về các khía cạnh thương mại của các vấn đề lao động và môi trường.

4. Hai Bên đồng ý rằng chương này thể hiện một cách tiếp cận hợp tác dựa trên các giá trị và lợi ích chung, có tính đến sự khác biệt về mức độ phát triển của hai Bên.

ĐIỀU 2

Quyền điều tiết và mức độ bảo vệ

1. Hai Bên công nhận quyền của mỗi Bên về xác định mục tiêu, chiến lược, chính sách phát triển bền vững và các ưu tiên của mình, về thiết lập các cấp độ bảo vệ trong nước của riêng mình trong các lĩnh vực môi trường và xã hội nếu xét thấy phù hợp và về việc áp dụng hoặc sửa đổi cho phù hợp với pháp luật và các chính sách có liên quan của Bên đó, phù hợp với các nguyên tắc của các tiêu chuẩn được quốc tế công nhận hoặc các thỏa thuận nêu tại Điều 3 và 4 mà bên đó là thành viên.

2. Mỗi Bên sẽ cố gắng đảm bảo rằng luật pháp và các chính sách của mình quy định và khuyến khích bảo vệ trong nước mức độ cao trong các lĩnh vực môi trường và xã hội và sẽ phấn đấu để tiếp tục cải thiện các luật và chính sách.

ĐIỀU 3

Các tiêu chuẩn và thỏa thuận đa phương về lao động

1. Hai Bên thừa nhận tầm quan trọng của lao động đầy đủ và hiệu quả và việc làm bền vững cho tất cả, đặc biệt là để hưởng ứng sự toàn cầu hóa, và tái khẳng định cam kết của mình để thúc đẩy sự phát triển của thương mại song phương của họ một cách có lợi cho việc làm đầy đủ và hiệu quả và việc làm bền vững cho tất cả, kể cả đối với phụ nữ và thanh niên. Trong bối cảnh này, hai Bên cam kết để tham khảo ý kiến và hợp tác khi thích hợp các vấn đề lao động liên quan tới thương mại của hai Bên có cùng quan tâm.

2.  Mỗi Bên tái khẳng định cam kết của mình, phù hợp với các nghĩa vụ phát sinh từ các thành viên của ILO và Tuyên bố ILO về các Nguyên tắc cơ bản và các quyền tại nơi làm việc và tuyên bố tiếp theo đó, được thông qua bởi Hội nghị Lao động Quốc tế tại kỳ họp lần thứ 86 của mình năm 1998, sẽ tôn trọng, thúc đẩy và thực hiện hiệu quả các nguyên tắc về các quyền cơ bản tại nơi làm việc, cụ thể là:

a) tự do hiệp hội và công nhận hiệu quả của quyền thương lượng tập thể;

b) loại bỏ tất cả các hình thức lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc;

c) bãi bỏ hiệu quả lao động trẻ em; và

d) xóa bỏ phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp.

3. Mỗi Bên sẽ tiếp tục và duy trì các nỗ lực nhằm thông qua, đến một mức chưa từng được thực hiện trước đây, các công ước ILO cơ bản, và hai Bên sẽ thường xuyên trao đổi thông tin về vấn đề này.

4. Mỗi Bên, cũng sẽ xem xét việc thông qua các công ước khác được ILO phân loại là phù hợp với thời cuộc có tính đến hoàn cảnh trong nước. Hai Bên sẽ trao đổi thông tin về vấn đề này.

5. Mỗi Bên tái khẳng định cam kết của mình về thực hiện có hiệu quả trong pháp luật và các thông lệ của mình các Công ước ILO được Việt Nam và các nước thành viên của Liên minh châu Âu lần lượt thông qua.

6. Hai Bên công nhận rằng việc vi phạm các nguyên tắc và quyền cơ bản tại nơi làm việc không thể được viện dẫn hoặc sử dụng theo cách khác như là một lợi thế so sánh hợp pháp và các tiêu chuẩn lao động không nên được sử dụng cho mục đích bảo hộ thương mại.

ĐIỀU 4

Các thỏa thuận đa phương về môi trường

1. Hai Bên thừa nhận giá trị của quản lý môi trường đa phương và các thỏa thuận như là một sự hưởng ứng của cộng đồng quốc tế với các thách thức về môi trường và nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường sự hỗ trợ lẫn nhau giữa thương mại và môi trường. Trong bối cảnh này, hai Bên cam kết để tham khảo ý kiến và hợp tác khi thích hợp các vấn đề môi trường liên quan tới thương mại của hai Bên có cùng quan tâm.

2. Hai Bên khẳng định lại cam kết của mình về việc thực hiện có hiệu quả trong các luật của và thông lệ của mình các thỏa thuận môi trường đa phương (MEAs) mà mình tham gia.

3.  Hai Bên sẽ trao đổi tại các cuộc họp của ủy ban chuyên ngành về thương mại và phát triển bền vững và trong những dịp thích hợp khác các thông tin và kinh nghiệm về từng tình huống và tiến bộ của họ liên quan đến việc thông qua hay sửa đổi bổ sung các thỏa thuận môi trường đa phương.

4.  Hiệp định này không ngăn cản hai Bên áp dụng hoặc duy trì các biện pháp để thực hiện các thỏa thuận môi trường đa phương mà họ là thành viên miễn là các biện pháp đó không được áp dụng theo cách có thể tạo thành một phương tiện phân biệt đối xử tuỳ tiện giữa hai Bên hoặc một hạn chế trá hình đối với thương mại.

ĐIỀU 5

Thay đổi khí hậu

1. Hai Bên khẳng định lại cam kết của mình để đạt được mục tiêu cuối cùng của Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) và Nghị định thư Kyoto. Hai Bên cam kết hợp tác về sự phát triển của các thỏa thuận biến đổi khí hậu quốc tế ràng buộc về mặt pháp lý trong tương lai đối với tất cả hai Bên trong khuôn khổ UNFCCC.

2. Trong khuôn khổ này, các thành viên công nhận vai trò của công cụ chính sách đối nội trong việc đạt được mục tiêu biến đổi khí hậu. Theo đó, hai Bên đồng ý tham gia vào các cuộc đối thoại và chia sẻ thông tin và kinh nghiệm trong các lĩnh vực cùng quan tâm hoặc ưu tiên như:

– Thực hành tốt nhất và bài học kinh nghiệm trong việc thiết kế, thực hiện và cơ chế điều hành định giá cac-bon;

– Thúc đẩy thị trường cac-bon trong nước và quốc tế, bao gồm cả thông qua các cơ chế như Cơ chế kinh doanh phát thải (ETS) và Giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng (REDD+).

– Thúc đẩy hiệu quả năng lượng, công nghệ phát thải thấp và năng lượng tái tạo.

ĐIỀU 6

Đa dạng sinh học

1. Hai Bên thừa nhận tầm quan trọng của việc đảm bảo việc bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học phù hợp với Công ước về Đa dạng sinh học (CBD) và Kế hoạch Chiến lược của nó đối với đa dạng sinh học, Công ước về buôn bán quốc tế các loài hoang dã động thực vật (CITES), và các công cụ quốc tế khác có liên quan mà họ tham gia, cũng như các quyết định sau đây.

2. Nhắc lại Điều 15 của CBD, hai Bên thừa nhận các quyền chủ quyền của các quốc gia về tài nguyên thiên nhiên của họ và thừa nhận rằng thẩm quyền xác định truy cập vào các nguồn tài nguyên di truyền của họ nằm trong tay chính phủ tương ứng của họ và phản ánh pháp luật trong nước của họ. Thêm vào đó, hai Bên sẽ nỗ lực tạo điều kiện để tiếp cận nguồn gen cho việc sử dụng thân thiện với môi trường và không áp đặt các hạn chế đi ngược với mục tiêu của Công ước về Đa dạng sinh học (CBD) và công nhận rằng việc tiếp cận nguồn gen phải được sự đồng ý trước của Bên cung cấp nguồn gen, trừ trường hợp Bên đó có quyết định khác.

3. Để được như vậy, mỗi Bên cam kết:

 (a) Khuyến khích kinh doanh các sản phẩm có góp phần vào việc sử dụng bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học, phù hợp với luật pháp trong nước.

 (b) Thúc đẩy và khuyến khích việc bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học bao gồm tiếp cận nguồn gen và sự phân chia đồng đều các lợi ích phát sinh từ việc sử dụng các nguồn gen.

 (c) Trao đổi thông tin với bên kia về những hành động như các chiến lược, các sáng kiến ​​chính sách, chương trình, kế hoạch hành động, các chiến dịch nâng cao nhận thức của người tiêu dùng liên quan trong một bối cảnh thương mại nhằm mục đích ngăn chặn sự mất đa dạng sinh học, giảm áp lực về đa dạng sinh học và hợp tác khi thích hợp để tối đa hóa tác động và đảm bảo sự hỗ trợ lẫn nhau về các chính sách tương ứng.

 (d) Chấp nhận và thực hiện các biện pháp hiệu quả phù hợp, tuân thủ theo các cam kết của mình theo các điều ước quốc tế mà mình tham gia, dẫn đến giảm thiểu buôn bán trái phép động vật hoang dã, chẳng hạn như các chiến dịch nâng cao nhận thức, các biện pháp giám sát và thực thi.

 (e) Tăng cường hợp tác khi thích hợp nhằm đề xuất các loài động vật và thực vật mới để bổ sung vào phụ lục I và II của Công ước CITES.

 (f) Hợp tác ở cấp khu vực và toàn cầu khi thích hợp với mục đích thúc đẩy việc bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái tự nhiên hoặc nông nghiệp, bao gồm các loài nguy cấp, môi trường sống của chúng, các khu vực tự nhiên được bảo vệ đặc biệt và sự đa dạng di truyền; sự phục hồi các hệ sinh thái; việc loại bỏ hoặc giảm thiểu tác động môi trường tiêu cực phát sinh từ việc sử dụng các nguồn sinh vật và các nguồn tài nguyên, bao gồm các hệ sinh thái; việc tiếp cận nguồn gen và phân chia đồng đều lợi ích phát sinh từ việc sử dụng của chúng.

ĐIU 7

Quản lý rừng bền vững và thương mại lâm sản

1. Hai Bên thừa nhận tầm quan trọng của việc đảm bảo việc bảo tồn và quản lý bền vững tài nguyên rừng, góp phần vào mục tiêu kinh tế, môi trường và xã hội của hai Bên.

2. Để đạt được điều này, mỗi Bên cam kết:

 (a) Khuyến khích phát triển thương mại lâm sản từ rừng được quản lý bền vững và thu hoạch phù hợp với pháp luật quốc gia của nước thu hoạch; điều này có thể bao gồm các kết luận của Hiệp định Đối tác tự nguyện thuộc Chương trình Thực thi lâm luật, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT)

 (b) Trao đổi thông tin về các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ từ rừng được quản lý bền vững và, nếu có thể, hợp tác để phát triển các biện pháp đó.

 (c) Áp dụng các biện pháp phù hợp với pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Bên đó là thành viên, nhằm thúc đẩy việc bảo tồn các nguồn tài nguyên rừng, chống khai thác gỗ bất hợp pháp và hoạt động thương mại liên quan.

 (d) Trao đổi thông tin thích hợp về những hành động để cải thiện thực thi lâm luật, và có thể hợp tác để tối đa hóa tác động và đảm bảo sự hỗ trợ lẫn nhau về chính sách tương ứng của họ nhằm loại trừ gỗ và sản phẩm gỗ khai thác trái phép từ các dòng thương mại.

 (e) Hợp tác ở cấp khu vực và toàn cầu khi thích hợp với mục đích thúc đẩy việc bảo tồn và quản lý bền vững của tất cả các loại rừng.

ĐIỀU 8

Kinh doanh và quản lý bền vững các nguồn hải sản sống và các sản phẩm nuôi trồng thủy sản

1. Hai Bên thừa nhận tầm quan trọng của việc đảm bảo việc bảo tồn và quản lý bền vững các nguồn hải sản sống và các hệ sinh thái biển cũng như việc thúc đẩy nuôi trồng thủy sản có trách nhiệm và bền vững.

2. Để đạt được điều này, hai Bên cam kết:

(a) Tuân thủ các biện pháp bảo tồn và quản lý lâu dài và khai thác bền vững tài nguyên sinh vật biển như quy định trong Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS), khuyến khích sự tuân thủ các mục tiêu của Hiệp định thực thi các điều khoản của UNCLOS liên quan đến bảotồn và quản lý các đàn cá di cư xa, Hiệp định của FAO về thúc đẩy việc tuân thủ các biện pháp bảo tồn và quản lý quốc tế của tàu cá cùng biển khơi, và các Hiệp định của FAO về các biện pháp đối với cảng Nhà nước để ngăn chặn và loại bỏ đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định, và tuân thủ các nguyên tắc của FAO về Quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm năm 1995.

(b) Hợp tác, khi thích hợp, với, và trong phạm vi, các tổ chức quản lý thủy sản khu vực mà mình là thành viên, các nhà quan sát, hoặc hai Bên hợp tác ngoài hợp đồng, bao gồm cả thông qua việc áp dụng có hiệu quả giám sát, kiểm soát và theo dõi và thực thi các biện pháp quản lý và, nếu có thể, thực hiện Chương trình tài liệu hoặc chứng nhận đánh bắt.

 (c) Hợp tác và tích cực tham gia vào cuộc chiến chống lại việc đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định và các hoạt động đánh cá liên quan với các biện pháp toàn diện, hiệu quả và minh bạch để chống đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định. Hai Bên cũng tạo điều kiện cho việc trao đổi thông tin về các hoạt động bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định và thực hiện các chính sách và biện pháp để loại trừ các sản phẩm bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định từ các dòng thương mại.

 (d) Đẩy mạnh phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững, có tính đến các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường của nó.

 (e) Trao đổi tại cuộc họp của Ủy ban chuyên trách về thương mại và phát triển bền vững và trong những dịp khác khi thích hợp thông tin về tất cả các biện pháp mới về quản lý các nguồn hải sản và sản phẩm thủy sản có thể tác động đến thương mại giữa hai bên.

ĐIỀU 9

Thương mại và đầu tư thiên về phát triển bền vững

Hai Bên khẳng định cam kết của họ để tăng cường sự đóng góp của thương mại và đầu tư vào mục tiêu phát triển bền vững ở khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường. Theo đó:

 (a) Hai Bên công nhận vai trò có lợi có thể có của việc làm bền vững đối với hiệu quả, đổi mới và năng suất kinh tế, và hai Bên sẽ khuyến khích sự gắn kết chính sách hơn nữa, một mặt là giữa các chính sách thương mại và mặt khác là giưa chính sách lao động.

 (b) Mỗi ​​Bên sẽ cố gắng tạo điều kiện và thúc đẩy thương mại và đầu tư hàng hóa và dịch vụ môi trường phù hợp với Hiệp định này.

 (c) Hai Bên sẽ cố gắng thúc đẩy thương mại và đầu tư hàng hóa và dịch vụ liên quan đặc biệt để giảm thiểu biến đổi khí hậu, bao gồm cả thông qua sự phát triển các khung chính sách có lợi cho việc triển khai các công nghệ tốt nhất hiện có.

 (d) Hai Bên thừa nhận rằng các sáng kiến ​​tự nguyện có thể đóng góp vào việc đạt được và duy trì ở mức độ cao việc bảo vệ môi trường và lao động và các biện pháp quản lý quốc gia bổ sung. Do đó, mỗi Bên, theo quy định của luật pháp và các chính sách của mình, khuyến khích việc phát triển và tham gia sáng kiến ​​trên, bao gồm cả các chương trình đảm bảo bền vững tự nguyện như các chương trình thương mại công bằng và đạo đức và nhãn sinh thái.

 (e) Hai Bên, theo quy định của chính sách đối nội của mình, đồng ý thúc đẩy trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR), với điều kiện các biện pháp CSR liên quan không được áp dụng theo cách mà sẽ tạo thành một phương tiện phân biệt đối xử tuỳ tiện giữa hai Bên hoặc tạo thành một sự hạn chế trà hình về thương mại. Thúc đẩy CSR bao gồm các trao đổi khác về thông tin và thực hành tốt nhất, các hoạt động giáo dục và đào tạo và tư vấn kỹ thuật. Về vấn đề này, mỗi Bên sẽ đưa vào tài khoản các công cụ có liên quan được quốc tế chấp nhận và đồng ý, đã được xác nhận hoặc được hỗ trợ của Bên đó, như hướng dẫn OECD cho các doanh nghiệp đa quốc gia, Hiệp ước toàn cầu của Liên hợp quốc, Tuyên bố Ba bên ILO về các Nguyên tắc liên quan đến doanh nghiệp đa quốc gia và Chính sách xã hội.

ĐIỀU 10

Duy trì mức độ bảo vệ

1. Hai Bên nhấn mạnh rằng việc làm suy yếu mức độ bảo vệ trong các lĩnh vực môi trường và lao động là bất lợi cho các mục tiêu của Chương này. Theo đó, họ thừa nhận rằng không thích hợp để khuyến khích thương mại và đầu tư bằng việc làm giảm mức độ bảo vệ trong các luật trong nước về môi trường và lao động.

2. Một bên sẽ không từ bỏ hoặc làm phương hại đến, hoặc yêu cầu từ bỏ hoặc làm phương hại đến, luật môi trường hay luật lao động của mình theo cách ảnh hưởng đến thương mại và đầu tư giữa hai bên.

3. Một Bên sẽ không thông qua một quá trình kéo dài hoặc tái diễn việc hành động hoặc không hành động, không thực thi có hiệu quả pháp luật về môi trường và lao động của mình, như một sự khuyến khích đối với thương mại và đầu tư.

4. Một Bên không áp dụng lao động hoặc pháp luật môi trường một cách mà sẽ tạo nên một sự hạn chế trá hình đối với thương mại hoặc phân biệt đối xử vô lý giữa hai Bên.

ĐIỀU 11

Thông tin khoa học

Khi chuẩn bị và khi thực hiện các biện pháp bảo vệ điều kiện lao động hay môi trường có thể ảnh hưởng đến thương mại và đầu tư, mỗi Bên sẽ xem xét một cách hợp lý các thông tin khoa học, kỹ thuật và đổi mới và các tiêu chuẩn, hướng dẫn và đề nghị quốc tế liên quan, nếu có, bao gồm nguyên tắc phòng ngừa.

ĐIỀU 12

Sự minh bạch

Mỗi Bên, phù hợp với luật pháp quốc gia và Chương [….] [Tính minh bạch], phải đảm bảo rằng bất kỳ biện pháp nhằm bảo vệ các điều kiện môi trường và lao động có thể ảnh hưởng đến thương mại và đầu tư được phát triển, giới thiệu và triển khai thực hiện một cách minh bạch, với thông báo chính đáng thông báo và đem lại cơ hội cho những người quan tâm để đưa ra quan điểm của họ.

ĐIỀU 13

Đánh giá tác động bền vững

Hai Bên sẽ khảo sát, giám sát và đánh giá, cùng nhau hoặc độc lập, tác động của việc thực hiện Hiệp định về phát triển bền vững thông qua các chính sách, thông lệ, quy trình và cơ sở tương ứng.

ĐIỀU 14

Làm việc cùng nhau về thương mại và phát triển bền vững

1. Theo cách tiếp cận hợp tác của Chương này, hai Bên thừa nhận tầm quan trọng của việc làm việc với nhau về các khía cạnh thương mại liên quan đến phát triển bền vững để đạt được các mục tiêu của Chương này. Theo đó, hai Bên có thể hợp tác các lĩnh vực sau, không kể những mặt hàng khác:

 (a) Thương mại và phát triển bền vững tại các diễn đàn quốc tế, bao gồm cả các ILO, ASEM, UNEP, và các thỏa thuận môi trường đa phương.

 (b) Trao đổi thông tin và kinh nghiệm liên quan đến các phương pháp và các chỉ tiêu đánh giá tác động bền vững thương mại.

 (c) Tác động thương mại của nội quy lao động và môi trường, định mức, tiêu chuẩn, cũng như tác động về lao động và môi trường của thương mại và các quy tắc đầu tư bao gồm sự phát triển của các chiến lược và chính sách phát triển bền vững.

 (d) Chia sẻ kinh nghiệm về việc thúc đẩy việc phê chuẩn và thực hiện cơ bản, ưu tiên và các Công ước ILO hiện thời khác và các thỏa thuận môi trường đa phương về mối liên quan trong một bối cảnh thương mại.

 (e) Các khía cạnh liên quan tới thương mại của chương trình Nghị sự Việc làm bền vững của ILO, đặc biệt là về các mối liên hệ giữa thương mại và việc làm đầy đủ và hiệu quả cho tất cả, bao gồm thanh niên, phụ nữ và người khuyết tật, điều chỉnh thị trường lao động, tiêu chuẩn lao động và tiêu chuẩn lao động quốc tế khác, thống kê lao động, phát triển nguồn nhân lực và học tập suốt đời, bảo trợ xã hội cho tất cả (kể cả đối với các nhóm dễ bị tổn thương và các nhóm khó khăn, chẳng hạn như các công nhân nhập cư, phụ nữ, thanh niên và người khuyết tật) và hòa nhập xã hội, đối thoại xã hội và bình đẳng giới.

 (f) Các khía cạnh liên quan đến thương mại của các thỏa thuận môi trường đa phương, bao gồm cả hợp tác hải quan.

 (g) Các khía cạnh liên quan đến thương mại của chế độ biến đổi khí hậu quốc tế hiện nay và trong tương lai, bao gồm cả phương tiện để thúc đẩy công nghệ các-bon thấp và hiệu quả năng lượng.

 (h) Chia sẻ thông tin và kinh nghiệm về chương trình chứng nhận và dán nhãn mác, bao gồm cả nhãn sinh thái.

 (i) Tăng cường trách nhiệm xã hội và trách nhiệm giải trình, trong đó có liên quan đến các công cụ đã được quốc tế chấp nhận và xác nhận hoặc được hỗ trợ bởi mỗi Bên.

 (j) Các biện pháp liên quan đến thương mại dùng để thúc đẩy việc bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học, bao gồm các bản đồ, đánh giá và định giá hệ sinh thái và dịch vụ của hai Bên, và đấu tranh chống buôn bán quốc tế bất hợp pháp động vật hoang dã.

 (k) Các biện pháp liên quan đến thương mại để thúc đẩy việc bảo tồn và quản lý bền vững rừng nhằm giảm thiểu nạn phá rừng và khai thác gỗ bất hợp pháp.

 (l) Các biện pháp liên quan đến thương mại để thúc đẩy đánh bắt và kinh doanh bền vững sản phẩm cá đã được quản lý bền vững.

 (m) Chia sẻ thông tin và kinh nghiệm về các khía cạnh liên quan đến thương mại về việc xác định và thực hiện các chiến lược và chính sách tăng trưởng xanh, bao gồm nhưng không giới hạn trong sản xuất và tiêu dung bền vững, giảm thiểu và thích ứng biến đổi khí hậu, và công nghệ thân thiện môi trường.

2. Hai Bên sẽ chia sẻ thông tin và kinh nghiệm cho các mục đích phát triển và thực hiện các hoạt động hợp tác và xây dựng năng lực về thương mại và phát triển bền vững.

3. Theo Chương [… Hợp tác và xây dựng năng lực], hai Bên có thể tiến hành các hoạt động trong các lĩnh vực nêu trên của hợp tác thông qua:

 (a) Hội thảo, chuyên đề, đào tạo và các cuộc đối thoại để chia sẻ kiến ​​thức, kinh nghiệm và thực hành tốt nhất;

 (b) Các nghiên cứu;

 (c) Hỗ trợ kỹ thuật và xây dựng năng lực cho phù hợp. Hai Bên có thể thoả thuận các hình thức hợp tác khác.

ĐIỀU 15

Cơ chế thiết lập tổ chức và giám sát

1. Mỗi Bên sẽ chỉ định một cơ quan đầu mối trong chính phủ của mình để thực hiện chương này.

2. Hai Bên sẽ thành lập một ủy ban chuyên về thương mại và phát triển bền vững. Ủy ban chuyên trách về Thương mại và Phát triển bền vững bao gồm các cán bộ cấp cao của các cơ quan chính phủ có liên quan của mỗi bên hoặc các cán bộ do họ chỉ định.

3. Ủy ban chuyên trách về Thương mại và Phát triển bền vững phải có cuộc họp ngay từ năm đầu tiên sau ngày Hiệp định này có hiệu lực, và sau đó khi cần thiết, để xem xét việc thực hiện các chương này, bao gồm cả các hoạt động hợp tác xã thực hiện theo Điều 14. Ủy ban chuyên trách về thương mại và phát triển bền vững này phải thiết lập quy tắc hoạt động của mình, và thông qua các quyết định của mình bằng thỏa thuận chung.

4.  Mỗi Bên sẽ triệu tập nhóm tư vấn trong nước mới hoặc tham khảo ý kiến của ​​nhóm tư vấn trong nước hiện có về phát triển bền vững với nhiệm vụ tư vấn về việc thực hiện Chương này. Mỗi Bên sẽ quyết định về thủ tục trong nước để thành lập nhóm tư vấn trong nước và bổ nhiệm các thành viên cho nhóm tư vấn này. Nhóm tư vấn trong nước này bao gồm các tổ chức đại diện độc lập, bảo đảm sự đại diện cân bằng giữa các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường, bao gồm cả những tổ chức người lao động và tổ chức nhân công, các nhóm doanh nghiệp và các tổ chức môi trường khác. Mỗi nhóm tư vấn trong nước có thể, theo sáng kiến ​​riêng của mình, trình quan điểm hoặc kiến ​​nghị với nước đó về việc thực hiện Chương này.

5.  Các thành viên của nhóm tư vấn trong nước của mỗi Bên sẽ gặp nhau tại một diễn đàn chung để tiến hành một cuộc đối thoại về các khía cạnh phát triển bền vững của mối quan hệ thương mại giữa hai Bên. Theo thỏa thuận chung, nhóm tư vấn trong nước của cả hai bên có thể có sự tham gia của bên liên quan khác trong các cuộc họp của Diễn đàn chung. Diễn đàn được dựa trên một sự đại diện cân bằng của hai Bên liên quan về kinh tế, xã hội và môi trường. Báo cáo về mỗi cuộc họp của Diễn đàn chung được trình lên Ủy ban chuyên trách về thương mại và phát triển bền vững và sau đó được công bố công khai.

6.  Trừ khi hai Bên có thoả thuận khác, diễn đàn chung phải gặp nhau mỗi năm một lần và kết hợp với các cuộc họp của ủy ban chuyên ngành về thương mại và phát triển bền vững. Trong những dịp này, hai Bên sẽ trình bày cho các diễn đàn chung một bản cập nhật về việc thực hiện quy định của của chương. Hai Bên thoả thuận về hoạt động của diễn đàn chung không muộn hơn một năm sau khi Hiệp định này có hiệu lực.

ĐIỀU 16

Tham vấn chính phủ

1. Đối với bất kỳ vấn đề phát sinh theo quy định tại chương này mà có bất đồng, hai Bên sẽ chỉ dựa vào vào các thủ tục thành lập theo Điều 16 và Điều 17. Trừ khi có quy định khác trong Chương này, Chương XXX [Giải quyết tranh chấp] và Phụ lục III của Chương XXX (hòa giải) không áp dụng đối với Chương này; Phụ lục I của Chương này được áp dụng theo Điều 17.2.

2.  Một Bên có thể yêu cầu tham vấn với hai Bên khác về bất kỳ vấn đề phát sinh theo quy định tại Chương này bằng cách gửi một văn bản yêu cầu đến cơ quan đầu mối của Bên kia. Văn bản yêu cầu phải trình bày vấn đề một cách rõ ràng, xác định các vấn đề đang tranh cãi và cung cấp một bản tóm tắt ngắn gọn về những yêu cầu theo Chương này, bao gồm các quy định có liên quan và giải thích những ảnh hưởng của các quy định này đối với các mục tiêu của Chương này, cũng như các thông tin khác mà Bên đó cho là có liên quan. Tham vấn sẽ bắt đầu ngay sau khi một Bên gửi yêu cầu tham vấn.

3. Hai Bên nỗ lực hết mình để đi đến một giải pháp thỏa đáng cho vấn đề này. Trong thời gian tham vấn, cần đặc biệt chú ý các vấn đề và mối quan tâm đặc biệt của Bên là nước đang phát triển. Nếu có liên quan, hai Bên sẽ xem xét cẩn trọng các tác phẩm của ILO hay các tổ chức hay cơ quan môi trường đa phương có liên quan, có thể bằng thỏa thuận chung, tham khảo ý kiến từ các tổ chức, cơ quan này hoặc bất kỳ cơ quan hoặc người nào khác mà họ cho là thích hợp để xem xét đầy đủ vấn đề này.

4. Nếu một Bên tin rằng vấn đề cần thảo luận thêm, Bên đó có thể yêu cầu ủy ban chuyên về thương mại và phát triển bền vững về thương mại và phát triển bền vững được triệu tập để xem xét vấn đề này bằng cách gửi một văn bản yêu cầu đến cơ quan đầu mối của Bên kia . Ủy ban chuyên ngành về thương mại và phát triển bền vững phải triệu tập kịp thời và nỗ lực để thỏa thuận một phương án giải quyết vấn đề này.

5. Trong trường hợp thích hợp, ủy ban chuyên ngành về thương mại và phát triển bền vững có thể tham khảo lời khuyên của nhóm tư vấn trong nước của một hoặc hai Bên hoặc hỗ trợ chuyên gia khác, với mục đích tạo điều kiện cho phân tích của mình.

6. Bất kỳ phương án giải quyết được đưa ra bởi hai Bên về vấn đề này sẽ được công bố công khai, trừ khi họ có quyết định chung khác.

ĐIỀU 17

Hội đồng chuyên gia

1. Nếu có bất kỳ vấn đề chưa được giải quyết thỏa đáng bởi các ủy ban chuyên ngành về thương mại và phát triển bền vững trong vòng 120 ngày, hoặc một khoảng thời gian dài hơn theo thỏa thuận của hai Bên, sau khi gửi văn bản yêu cầu tham vấn theo Điều 16.4, một Bên có thể thông qua việc gửi một văn bản yêu cầu đến cơ quan đầu mối của Bên kia yêu cầu triệu tập một Hội đồng chuyên gia để xem xét vấn đề đó.

2. Đối với bất kỳ vấn đề thủ tục mà không được quy định tại Điều này, các quy tắc thủ tục cho Hội đồng chuyên gia sẽ được thành lập bởi các ủy ban chuyên ngành về thương mại và phát triển bền vững sau khi có Hiệp định này có hiệu lực. Trừ khi Ủy ban chuyên trách về thương mại và phát triển bền vững có thỏa thuận khác, trong khi chờ đợi xây dựng các quy tắc về thủ tục thì áp dụng các quy tắc về thủ tục nêu tại Phụ lục I của Chương [… Giải quyết tranh chấp], có xem xét bản chất các công việc của Hội đồng chuyên gia.

3. Ủy ban chuyên trách về thương mại và phát triển bền vững tại cuộc họp đầu tiên của mình sau khi Hiệp định này có hiệu lực thiết lập một danh sách ít nhất 15 cá nhân những người sẵn sàng và có khả năng phục vụ tại Hội đồng chuyên gia. Danh sách này sẽ bao gồm 3 phần: mỗi Bên một phần danh sách và một phần là danh sách các cá nhân không phải là công dân của một trong hai Bên và những người làm chủ tịch của Hội đồng chuyên gia. Mỗi Bên đề xuất ít nhất là 5 cá nhân để làm chuyên gia trong danh sách của mình. Hai Bên cũng sẽ chọn ít nhất là 5 cá nhân để đưa vào phần danh sách chủ tịch. Tại cuộc họp của mình, ủy ban chuyên ngành về thương mại và phát triển bền vững sẽ xem xét danh sách và đảm bảo rằng nó được duy trì ít nhất ở mức 15 cá nhân.

4. Danh mục nêu tại khoản 3 sẽ bao gồm các cá nhân có kiến thức chuyên ngành hoặc chuyên môn về pháp luật về lao động và môi trường, các vấn đề được đề cập trong chương này, hoặc việc giải quyết các tranh chấp phát sinh theo thỏa thuận quốc tế. Các cá nhân này phải được độc lập, phục vụ trong tư cách cá nhân của họ và không nghe hướng dẫn từ bất kỳ tổ chức hoặc chính phủ nào về các vấn đề liên quan đến vấn đề đang bị đe dọa, hoặc được liên kết với chính phủ của bất kỳ Bên nào. Những nguyên tắc trong Quy tắc ứng xử [Phụ lục II Chương … – Giải quyết tranh chấp] áp dụng đối với các chuyên gia theo điều này, có tính đến tính chất công việc của họ.

5. Một Hội đồng các chuyên gia sẽ gồm 3 thành viên, trừ trường hợp có thỏa thuận của hai Bên. Trong vòng ba mươi (30) ngày kể từ ngày Bên được yêu cầu nhận được yêu cầu thành lập một Hội đồng chuyên gia, hai Bên sẽ tham khảo ý kiến để đạt được một thỏa thuận về thành phần của Hội đồng. Trong trường hợp hai Bên không thể thoả thuận về thành phần của Hội đồng chuyên gia trong thời hạn này, họ sẽ chọn một người từ phần danh sách có liên quan nêu tại khoản 3 làm chủ tịch theo thoả thuận chung; nếu trong vòng 7 ngày sau mà vẫn không thể thỏa thuận được thì tiến hành bốc thăm để lựa chọn. Mỗi Bên sẽ chọn một chuyên gia tuân thủ các yêu cầu quy định tại khoản 4 trong vòng mười bốn (14) ngày sau khi kết thúc thời hạn 30 ngày. Hai Bên có thể thoả thuận về bất kỳ chuyên gia nào khác tuân thủ các yêu cầu của khoản 4 có một ghế trong hội đồng chuyên gia. Trong trường hợp các thành phần của Hội đồng chuyên gia chưa được hoàn tất trong vòng thời hạn bốn mươi bốn (44) ngày này kể từ ngày Bên được yêu cầu nhận được yêu cầu thành lập Hội đồng chuyên gia, các chuyên gia còn lại sẽ được chọn trong vòng bảy (7) ngày bằng cách bốc thăm từ các phần danh sách được nêu tại khoản 3 trong số các cá nhân bởi một hoặc hai Bên chưa hoàn thành quy trình. Trong trường hợp danh sách nêu tại khoản 3 vẫn chưa được xây dựng, các chuyên gia sẽ được lựa chọn bằng cách bốc thăm từ các cá nhân đã được chính thức đề xuất bởi cả hai bên hoặc, bởi một trong hai Bên, trong trường hợp chỉ có một Bên thực hiện đề nghị. Ngày thành lập Hội đồng chuyên gia là ngày mà ba chuyên gia cuối cùng được chọn.

6. Trừ khi hai Bên có thoả thuận khác trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày thành lập Hội đồng chuyên gia, các điều khoản tham chiếu của Hội đồng chuyên gia là:

“kiểm tra, sau khi xem xét các quy định có liên quan của Chương về phát triển thương mại và bền vững, các vấn đề được đề cập trong các yêu cầu thành lập Hội đồng chuyên gia, và báo cáo, theo khoản 8 Điều này, kiến nghị giải pháp cho vấn đề “.

7. Trong các vấn đề liên quan đến sự tôn trọng các thỏa thuận đa phương theo quy định tại Điều 3 và 4 của Chương này, Hội đồng phải tìm kiếm thông tin và tư vấn từ các cơ quan của ILO hoặc MEA. Bất kỳ thông tin thu được theo khoản này sẽ được cung cấp cho cả hai bên để lấy ý kiến.

8. Hội đồng chuyên gia phải làm báo cáo tạm thời và báo cáo cuối cùng cho hai Bên. Các báo cáo này cần đưa ra các kết quả của các sự kiện, khả năng áp dụng các quy định có liên quan và các lý do cơ bản đằng sau những phát hiện và kiến nghị. Các Hội đồng chuyên gia gửi báo cáo tạm thời cho hai Bên không quá chín mươi (90) ngày kể từ ngày thành lập. Hai Bên có thể nộp văn bản nhận xét cho các Hội đồng chuyên gia về các báo cáo tạm thời trong vòng 45 ngày kể từ ngày gửi báo cáo.

Sau khi xem xét tất cả ý kiến bằng văn bản, Hội đồng chuyên gia có thể sửa đổi báo cáo và thực hiện thêm các kiểm tra nếu thích hợp. Các Hội đồng chuyên gia gửi báo cáo cuối cùng cho hai Bên không muộn hơn 150 ngày kể từ thành lập. Trường hợp xét thấy không thể đáp ứng thời hạn quy định tại khoản này, chủ tịch Hội đồng chuyên gia phải thông báo cho hai Bên bằng văn bản, nêu rõ lý do của sự chậm trễ và ngày mà hội đồng dự kiến gửi báo cáo tạm thời hoặc báo cáo cuối cùng. Hội đồng chuyên gia gửi báo cáo cuối cùng cho hai Bên không quá 180 ngày kể từ ngày thành lập, trừ khi hai Bên có thỏa thuận khác. Báo cáo cuối cùng này sẽ được công bố công khai trừ khi hai Bên cùng có quyết định khác.

9. Hai Bên sẽ thảo luận các hành động hoặc các biện pháp thích hợp để thực hiện sau khi xem xét báo cáo cuối cùng của Hội đồng và những kiến nghị trong đó. Hai Bên liên quan có trách nhiệm thông báo cho nhóm tư vấn trong nước của mình và Bên kia các quyết định của mình trên bất kỳ hành động hoặc biện pháp sẽ thực hiện không quá chín mươi (90) ngày, hoặc một khoảng thời gian dài hơn theo thoả thuận của hai Bên, sau khi báo cáo cuối cùng đã được gửi đến hai Bên. Việc theo dõi để thực hiện các hành động hay biện pháp này phải được giám sát bởi các ủy ban chuyên ngành về thương mại và phát triển bền vững. Các nhóm tư vấn trong nước và diễn đàn chung có thể trình bày nhận xét cho ủy ban chuyên ngành về thương mại và phát triển bền vững trong lĩnh vực này.

——————————

1. Khi lao động được đề cập đến trong chương này, nó bao gồm các vấn đề thuộc Chương trình việc làm bền vững, được thể hiện trong Tuyên bố của ILO năm 2008 về công bằng xã hội cho một sự toàn cầu hóa công bằng.

Xem thêm: Bản Tiếng Anh

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *