Chức năng quản lý và chức năng hỗ trợ của nhà nước đối với quan hệ lao động trong kinh tế thị trường

Trong kinh tế thị trường, quan hệ lao động đạt đựơc trạng thái ổn định, hài hòa khi hai bên trong quan hệ lao động tìm được điểm cân bằng, hợp lý trong việc phân chia lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi điểm cân bằng này bị phá vỡ thì sẽ xảy ra tranh chấp lao động tập thể, với đỉnh điểm là đình công. Điểm cân bằng này được xây dựng trên hai cơ sở: thứ nhất là hai bên trong quan hệ lao động tôn trọng quyền của mỗi bên đựơc pháp luật quy định; thứ hai là hai bên đối thoại, thương lượng để đạt đựơc sự hài hòa về lợi ích. Một cách hình tượng hóa thì điểm mà ở đó, các quyền của người lao động theo luật định được doanh nghiệp bảo đảm thì gọi là điểm đảm bảo tính hợp pháp trong quan hệ lao động; còn điểm mà ở đó, doanh nghiệp đồng ý dành cho người lao động thêm những lợi ích cao hơn quy định của pháp luật thì gọi là điểm đảm bảo tính hợp lý trong quan hệ lao động.

Đã có lúc tồn tại quan điểm cho rằng chỉ cần doanh nghiệp không vi phạm pháp luật lao động là sẽ không có tranh chấp lao động tập thể hay đình công. Với quan điểm đó, các giải pháp về ngăn ngừa tranh chấp lao động và đình công tập trung vào việc tăng cường công tác quản lý nhà nước, nhất là công tác thanh tra, kiểm tra để đảm bảo việc các doanh nghịêp thực hiện nghiêm pháp luật lao động, bảo vệ quyền của người lao động theo luật định. Công cụ để thực hiện công tác này là cơ quan có chức năng quản lý nhà nước ở các cấp.

Tuy nhiên, lý thuyết cũng như thực tiễn quan hệ lao động trong kinh tế thị trường cho thấy, quan hệ này không thể đạt được mức hài hòa, ổn định ở điểm hợp pháp. Quan hệ này chỉ có thể đạt được trạng thái hài hòa, ổn định ở điểm hợp lý, mà điểm hợp lý chỉ có thể đạt đựơc thông qua sự tương tác giữa người lao động và người sử dụng lao động. Không nhà nước nào có thể xác định đựơc điểm hợp lý trong việc phân chia lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp, cũng giống như việc không nhà nước nào có thể xác định được giá cả hợp lý cho hàng trịêu hàng hóa và dịch vụ đang đựơc giao dịch hàng ngày trên thị trường.

Điều đó có nghĩa là trong trường hợp tốt nhất là doanh nghiệp không vi phạm luật pháp về lao động thì tranh chấp lao động tập thể và đình công vẫn có thể xảy ra. Kinh nghiệm của các nước có quan hệ lao động phát triển ổn định cho thấy tuyệt đại đa số tranh chấp lao động tập thể và đình công là liên quan tới lợi ích. Tại Việt Nam, nếu như trước đây, nguyên nhân dẫn đến tranh chấp lao động tập thể và đình công chủ yếu là do doanh nghịêp vi phạm luật pháp về lao động thì nay những nguyên nhân này chỉ chiếm chưa đến 20% trong số nguyên nhân của tranh chấp. Điều đó có nghĩa là trên 80% nguyên nhân của các vụ đình công là do người lao động đòi hỏi chủ sử dụng lao động phải điều chỉnh lại điểm phân chia lợi ích cho hợp lý. Đây là dạng tranh chấp lao động về lợi ích.

Tranh chấp lao động về lợi ích chỉ có thể giải quyết bởi hai bên trong quan hệ lao động. Hai bên phải tự thương lựơng để xác định đựơc điểm hợp lý thỏa mãn được cả hai bên. Đối với tranh chấp lao động về lợi ích thì không thể dùng bộ máy hành chính nhà nước để can thiệp vì trong trường hợp này không có biểu hịên vi phạm luật pháp từ phía người sử dụng lao động. (Trong thực tế, đã có doanh nghiệp “tế nhị” mời đòan công tác liên ngành ra khỏi doanh nghiệp khi xảy ra đình công về lợi ích do chủ doanh nghịêp tin rằng doanh nghiệp hoàn toàn không vi phạm luật pháp). Vấn đề đặt ra là nhà nước sẽ dùng cơ chế gì và công cụ gì để can thiệp vào những vấn đề liên quan tới lợi ích trong quan hệ lao động.

Đối với những vấn đề liên quan tới quyền trong quan hệ lao động, nhà nước thực hịên chức năng thực thi luật pháp, thông qua các công cụ hành chính, quản lý nhà nước để đảm bảo pháp luật đựơc thực hiện, quyền của người lao động được đảm bảo. Đây là sự “can thiệp cứng” của nhà nước vào quan hệ lao động.

Còn đối với những vấn đề liên quan tới lợi ích trong quan hệ lao động, theo kinh nghiệm của các nước có quan hệ lao động phát triển ổn định thì nhà nước thường sử dụng những công cụ và cơ chế hỗ trợ hai bên trong quan hệ lao động đối thoại, thương lựơng để đạt đựơc thỏa thuận về điểm hợp lý. Một cách hình tượng, nhà nước không thể xác định giá của mỗi mặt hàng trên thị trường, nhưng nhà nước có thể hỗ trợ, tạo điều kiện để người mua và người bán có đủ thiện chí và năng lực để tự mặc cả với nhau và xác định giá cho mặt hàng đó. Đây gọi là sự “can thiệp mềm” của nhà nước vào quan hệ lao động.

Như vậy, trong kinh tế thị trường, nhà nước cần có hai công cụ để thực hiện hai chức năng của mình đối với lĩnh vực quan hệ lao động. Thứ nhất là công cụ quản lý hành chính để thực hiện chức năng thực thi luật pháp, tức những nội dung về quyền. Thứ hai là công cụ hỗ trợ để giúp cho hai bên trong quan hệ lao động thực hiện những nội dung về lợi ích.

Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2012 đã bổ sung khá nhiều điều quy định bổ sung chức năng hỗ trợ của Nhà nước đối với quan hệ lao động. Đặc biệt, khoản 4, điều 235 về “Nội dung quản lý nhà nước về quan hệ lao động” đã quy định rõ “Xây dựng các cơ chế, thiết chế hỗ trợ phát triển quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ”.

Với việc thông qua Bộ luật Lao động sửa đổi lần này, hai chức năng quản lý và hỗ trợ của nhà nước đối với quan hệ lao động sẽ được củng cố và hoàn thiện để tạo dựng và thúc đẩy quan hệ lao động lành mạnh tại Việt nam.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *